Danh sách các Linh mục Bổn quốc Địa Phận Sài Gòn năm 1956
Thứ Sáu, 18 tháng 9, 2026
Thứ Sáu, 14 tháng 8, 2026
Họ Đạo Búng – Làng Hưng Định: Một thoáng nhìn lại.
Họ Đạo Búng – Làng Hưng Định: Một thoáng nhìn lại.
1.
Họ
Ghe Tám tiền thân của Họ Búng.
Chúng ta cùng đọc lại
Chuyên khảo người Công giáo xứ Búng, do Linh mục Louis-Marie Joseph Martin
(Nghi), cha sở họ Búng từ năm 1901 – 1916, viết ra ngày 10 tháng 02 năm 1911:
“ Vùng đất ngày nay tạo ra họ đạo Búng và Bình Sơn vào cuối thế kỷ 18,
xưa kia thuộc về người Chăm (Ciampois). Họ bỏ vùng đất này không trồng trọt
vì nước ngập phần lớn, nhưng đất này phì nhiêu nhờ phù sa mà sông Sài Gòn bồi đắp,
nên người Việt đã nhận ra và đến cư trú ở đây.
Những
người tín hữu đầu tiên đến từ Huế. Những cuộc chiến tranh liên miên trong thời
kỳ này ở vùng họ ở, và mọi thứ nhũng nhiễu họ phải chịu đựng trong thời kỳ bách
hại, bắt buộc họ phải chọn một nơi yên ổn hơn và có tự do hơn một chút.
Xứ
Búng ở cạnh Lái Thiêu là nơi bạn của Gia Long là Đức Giám mục Adran (Bá Đa Lộc) cư
trú, dường như qui tụ đầy đủ những điều kiện như họ ao ước để làm nên cơ sở
này.
Ông
Hương, Tùng, Bời, Dũi, Ở là những người đầu tiên đến cư trú tại Búng.
Tất
cả họ là người (Công giáo) đạo dòng. Họ tụ tập tại nhà ông Bời để cầu nguyện. Để
sinh sống, họ chăn nuôi bò và trâu, cũng như nuôi tằm. Sau đó, họ bắt đầu khai
khẩn đất đai và trồng trọt, nên sau một thời gian ngắn, họ đã sống tương đối đầy
đủ.
Ngôi
nhà nguyện đầu tiên được xây dựng chỉ từ thế kỷ 19, và nằm trên phần đất của một
người tên Nhờ. Nhưng vì được dựng bằng những vật liệu ít giá trị, nên khi mái
tranh bị hư, người ta mới cất một ngôi nhà nguyện khác, tiện nghi hơn, nằm trên
phần đất của ông Ràng, và lần này nhà nguyện được lợp bằng ngói.
Trên
nơi cao ở xứ Búng có cây sao đẹp. Các người có đạo đã chặt nó xuống để đóng một
chiếc ghe và họ dâng tặng cho vua Gia Long. Chiếc ghe này có chiều dài tám tam
(tầm ?), nên người có đạo mang tên là Ghe Tám cho đến khi người Pháp đến (khoảng
1862).
Các
người công giáo khác dần dần đến cư ngụ ở tại Ghe Tám và tạo ra một số dân có đạo
khoảng 300 người; thỉnh thoảng các cha ngụ ở Lái Thiêu đến thăm họ. Vì xứ này
chỉ toàn là bụi cây và ít người ở, nên họ không có những người lương theo đạo,
và họ lôi kéo bà con và bạn bè của họ đến ở với họ…”.
Qua bài Chuyên khảo của
cha Martin (Nghi), giúp chúng ta có cơ sở để truy nguyên về quá khứ xa xưa, khoảng
250 năm hình thành và phát triển của họ Búng.
Lượt lại những điểm
chính, ta thấy:
-
Họ Ghe Tám có từ cuối thế kỷ 18, khoảng thời
gian từ năm 1750 đến 1799.
-
Những người có đạo lúc ban đầu là các ông
Hương, Tùng, Bời, Dũi, Ở và những người đầu tiên đến từ Huế.
-
Họ Ghe Tám kéo dài từ cuối thế kỷ 18 đến
khi Pháp thuộc (khoảng năm 1862) và được đổi tên thành họ Búng từ đó.
Thật vậy, coi lại Bảng thống
kê các họ đạo ở Đàng Trong năm 1747, của cha Adrien Launay, thì chưa thấy có họ
Ghe tám. Đến sau các cha Thừa Sai vẽ bản đồ các Họ đạo ở Đàng Trong và do ngài Solminihac,
một nhà Bản đồ học, xuất bản năm 1786 thì thấy có tên Họ Ghe Tám bên cạnh các họ
lớn như: Lái Thiêu, Đá Lửa (Tân Triều)…
Bản đồ các Họ đạo ở Đàng Trong năm 1786:
Nguồn: https://gallica.bnf.fr/ark
Vậy
họ Ghe Tám có từ khoảng thời gian nào?
Cha Martin kể lại: “Xứ Búng ở cạnh Lái Thiêu là nơi bạn của Gia
Long là Đức Giám mục Adran (Bá Đa Lộc) cư trú, dường như qui tụ đầy đủ những
điều kiện như họ ao ước để làm nên cơ sở này”.
Coi lại ta thấy: Nhà thờ Họ đạo Lái Thiêu đầu tiên lập tại chợ Cây Me có bàn thờ Chúa do Đức Giám mục Bá Đa Lộc cho xây đơn sơ từ năm 1771, là người cai quản giáo phận Nam Đàng Trong và cả nhà thờ Lái Thiêu vì lúc bấy giờ Lái Thiêu là trung tâm của cả giáo phận". (Xem Họ đạo Lái Thiêu theo dòng lịch sử của Kts Nguyễn Văn Giàu. Saigon, 06. 04. 2011). Họ Ghe Tám ở gần Lái Thiêu, khi mới hình thành với 05 gia đình, nhưng được các Thừa Sai biết đến và tới lui làm lễ, làm phước và được ghi nhận là Họ đạo với tên gọi là Ghe Tám, mặc dù số nhân danh ban dầu còn rất khiêm tốn.
Cha Martin kể tiếp: “Trên nơi cao ở xứ Búng có cây sao đẹp. Các
người có đạo đã chặt nó xuống để đóng một chiếc ghe và họ dâng tặng cho vua Gia
Long (đúng hơn là Nguyễn Ánh). Chiếc ghe này có chiều dài tám tam (tầm ?), nên
người có đạo mang tên là Ghe Tám cho đến khi người Pháp đến (khoảng 1862).
Vậy những người có đạo dâng tặng chiếc ghe tám cho Nguyễn Ánh khi nào?
Chúng ta cùng nhìn lại những năm tháng Nguyễn Ánh ở trong xứ Gia Định và đời sống
của người Công giáo nói chung tại Gia Định, cách riêng là họ Ghe Tám lúc mới
hình thành họ đạo: “Riêng tại Nam Bộ (Gia
Định), khi phong trào Tây Sơn chưa lan tới, ngày 22 tháng 4 năm 1774, chúa Nguyễn
sau khi chạy trốn vào Gia Định, đã xuống dụ trả tự do cho những tín hữu Công
giáo lâu nay bị giam cầm và cho phép đạo được tự do hoạt động. Mục đích của dụ
này là nhằm tranh thủ sự ủng hộ của họ và của các thừa sai ngoại quốc để chống
lại Tây Sơn. Lợi dụng cơ hội, các thừa sai xuất hiện công khai, sửa nhà thờ cũ,
cất nhà nguyện mới. Linh mục Jumilla, dòng Phanxicô, người đã từng ở vùng chiếm
đóng của Tây Sơn tại Quảng Ngãi, theo chân chúa Nguyễn vào Sài Gòn, đã xây lại
nhà thờ Chợ Quán. Chính linh mục này đã che giấu Huệ Vương và cháu là Nguyễn
Ánh khỏi cuộc lùng bắt của Tây Sơn hai năm sau đó. Tại Hà Tiên, theo lời mời của
Mạc Thiên Tứ, giám mục Adran thiết lập một trụ sở tại Cây Quao cùng một chủng
viện gồm khoảng 40 chủng sinh. “Ý định của Thiên Tứ”, theo Adran, “mặc dù có
tính chất chính trị nhưng có thể trở thành có lợi cho tôn giáo. Giám mục có ý
thiết lập tòa giám mục trong lãnh địa của họ Mạc nhằm lôi kéo một số tín hữu
Công giáo đến đây” (A. Launay, III, trg.66). Cho nên mặc dù sợ chiến
tranh lan tới, giám mục Adran vẫn chấp nhận và đã quy tụ được khoảng trên dưới
500 giáo dân Công giáo. Những tín hữu này là những người đã trốn tránh chiến
tranh từ Đồng Nai tới vào đầu năm 1776, khi quân Tây Sơn đem thủy quân vượt biển
đánh Gia Định và chiếm Sài Gòn lần thứ nhất. Từ năm 1776 đến năm 1783, người
dân Nam Bộ phải trải qua một cuộc chiến khốc liệt giữa Tây Sơn và Nguyễn Ánh.
Tây Sơn bốn lần tiến đánh, có lần kéo dài suốt bảy tháng và Nguyễn Ánh cũng bốn
lần chiếm lại. Chỉ có hai khoảng thời gian tương đối bằng yên là từ năm
1778-1783 và từ 1783-1787, khoảng đầu do Nguyễn Ánh làm chủ tình hình và khoảng
sau dưới quyền cai trị của Tây Sơn.
Khỏi
cần phải nói, trong thời gian chiến tranh này, số giáo dân bị giảm sút rất nhiều,
vì loạn lạc, vì đói khát, vì bị cả hai bên cùng bắt lính. Trong khi đó các sinh
hoạt tôn giáo và truyền đạo bị tình hình làm ngưng trệ trầm trọng. Một giáo sĩ
đương thời đã mô tả như sau: “Dân chúng bị đè nặng dưới những ách không thể chịu
nổi phải trốn chạy và lang thang khắp miền để tránh các luật lệ vừa nhiều lại vừa
nặng: họ thay đổi chỗ ở và đổi tỉnh mỗi ngày” (Taboulet, trg. 77).
Trong
khoảng thời gian tương đối bình yên lần thứ nhất, lợi dụng việc Nguyễn Ánh thâu
phục lại Gia Định vào đầu năm 1778, giám mục Adran dời chủng viện từ Cây Quao về
Tân Triều, Đồng Nai, đồng thời tổ chức lại các sinh hoạt tôn giáo tại vùng đất
này.” (Theo Lê Văn Khuê - Người Công giáo tại đồng bằng Nam
Bộ trong các thế kỷ 17 và 18.)
Với những gì được đọc ở
trên, chúng ta có thể ước đoán, những người có đạo ở họ Ghe Tám dâng tặng lên
Nguyễn Ánh chiếc ghe tám, qua Đức Giám mục Bá Đa Lộc, không sớm hơn năm 1777 đến
khoảng 1780 là năm Nguyễn Ánh xưng vương ở Gia Định.
Tóm
lại:
Nhóm người có đạo sinh sống gần Lái Thiêu vào khoảng năm 1770, đến khoảng năm
1780 thì được gọi Họ đạo với tên là Ghe Tám. Những người đầu tiên đến từ Huế,
là gia đình các ông Hương, Tùng, Bời, Dũi, Ở.
Vậy, tuy không đoan chắc
điều chi những việc ông bà tổ tiên đã từng trãi qua, nhưng bằng bút tích của
cha sở Martin (Nghi), chúng ta hoàn toàn có thể dựa vào đó mà tìm về nguồn gốc,
tuy không được chính xác bằng tháng năm cụ thể, nhưng với một quá khứ xa xôi
như vậy, thì đó cũng là niềm phấn khởi của những kẻ hậu sinh luôn mong muốn tìm
hiểu về gốc tích quê hương xứ sở của mình.
Vậy trong ¼ thế kỷ từ khi
hình thành họ đạo đến đầu thế kỷ thứ 19, họ Ghe Tám có được ổn định số nhân
danh như lúc ban đầu, hay là tăng thêm, hay là giảm đi vì những ảnh hưởng chung
của thời cuộc, chiến tranh liên miên giữa nhà Tây Sơn với Nguyễn Ánh, thiếu vắng
linh mục coi sóc, không có người ở các nơi lân cận thêm vào, đất đai còn hoang
sơ nhiều. Nhìn chung là không có gì rõ ràng trong giao đoạn nầy.
Cha Martin (Nghi) cũng cho
biết nhà thờ đầu tiên của họ Ghe Tám chỉ mới có từ đầu thế kỷ 19. Thật vậy, xứ
Ghe Tám thật sự khởi sắc khi cuộc chiến giữa nhà Tây Sơn và Nguyễn Ánh kết thúc
vào năm 1802. Nhiều đợt di dân từ các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, Huế… vào lập
nghiệp nơi xứ Ghe Tám. Tiền nhân nếu không phải là quan binh của nhà Tây Sơn tìm nơi
lánh thân thì cũng là những người có đạo tìm nơi đất mới để sinh sống và giữ đạo.
Vậy, công cuộc chiêu mộ
thêm dân, khai khẩn thêm đất hoang để mở rộng xứ, khởi xướng xây dựng Nhà thờ đầu
tiên có Ban Quới Chức, phân chia ranh giới để lập Làng có Ban Hội Tề với đầy đủ
chức phận đã được diễn ra như thế nào?. Mọi việc đã rành rành từ thời vua Gia
Long trở về sau.
Ý
nghĩa của địa danh Ghe Tám?
Cha Martin (Nghi) viết
trong Chuyên khảo người Công giáo xứ Búng về địa danh Ghe Tám: “Trên nơi cao ở xứ Búng có cây sao đẹp. Các
người có đạo đã chặt nó xuống để đóng một chiếc ghe và họ dâng tặng cho vua Gia
Long (đúng hơn là Nguyễn Ánh). Chiếc ghe này có chiều dài tám tam (tầm ?) nên
người có đạo mang tên là Ghe Tám cho đến khi người Pháp đến.”
Tầm: theo sách Từ Nguyên, 1 tầm bằng 8 thước (tương đương 6 feet của Anh),
được quy đổi chính xác là 1,825 mét. Theo chú thích của dịch giả Phan Đăng
trong Hoàng Việt Nhất Thống Dư Địa Chí năm 1806 của Lê Quang Định, trang 8. Vậy
chiếc ghe dài tám tầm tương đương với 14.6 mét.
Trong Đại Nam Quấc Âm Tự
Vị, Tome II, trang 333 – Huình Tịnh Paulus Của. Có chú giải mục Ghe Tám: Tên xứ thuộc huyện Bình An (Thủ Dầu Một).
Ghe tám bổ.
Ghe tám bổ là loại ghe (thường là ghe độc mộc) có tám bổ chèo (cọc chèo/cột chèo) dành cho tám người chèo nên ghe di chuyển rất nhanh, có nguồn ghi là tám mái chèo thì cũng nhằm. Ngoài ghe tám bổ, còn nghe biết trong dân gian còn có ghe sáu bổ, ghe bốn bổ.
Vậy, tóm gọn lại như sau:
Những người có đạo, ở gần Lái Thiêu, chặt một cây sao đẹp trong vùng của họ ở
và làm thành một chiếc ghe độc mộc dài khoảng 14.6 mét, có tám cọc chèo, qua Đức
Giám mục Bá Đa Lộc, họ dâng tặng cho Nguyễn Ánh và được ngài ban cho hay gọi xứ
đó là Ghe Tám.
2.
Xứ
Ghe Tám - Làng Hưng Định.
Ông Antôn Nguyễn Thới
Linh, cháu 5 đời của ông Bình, người lập ra làng Hưng Định, viết trong Tiểu sử
Làng Hưng Định – Họ Búng, xin trích:
“ …song Làng Hưng Định
khai sinh sau thời Gia Long phục quốc, là năm 1810, bằng chứng là theo di bút của
ông Tính (cháu nội ông Bình) để lại, khi qui dân lập ấp xong xuôi rồi, lập sớ gởi
về Kinh xin thần phục và gia nhập Tổng Bình Chánh, với một Ban Hội Tề có đầy đủ
chức phận.”
“ song song với việc lập
làng, cất công sở ở đất ngoài (Hưng Thọ/ Cầu Ngang bây giờ), thì nơi ấp trong
(Hưng Lộc) cũng đang dựng lên một ngôi thánh đường có Ban Quới Chức và tự nhiên
người xướng lập lãnh vai ông Trùm”.
Năm 1810, năm Gia Long thứ
9, làng Hưng định thuộc về tổng Bình Chánh, huyện Bình An, phủ Phước Long, trấn
Biên Hòa.
Đến năm 1821, năm Minh Mạng
thứ 2, làng Hưng Định thuộc về tổng Bình Chánh Thượng, huyện Bình An, Phủ Phước
Long, trấn Biên Hòa.
Đến năm 1832, năm Minh Mạng
thứ 13, đổi trấn Biên Hòa thành tỉnh Biên Hòa.
Đến năm 1836, vua Minh Mạng
cho đo đạc để lập địa bạ Lục Tỉnh Nam Kỳ.
Lúc nầy thôn Hưng Định
thuộc về tổng Bình Chánh Thượng, huyện Bình An, phủ Phước Long, tỉnh Biên Hòa.
Nghiên cứu Địa bạ triều Nguyễn – Biên Hòa của Nhà Sử học Nguyễn Đình Đầu, ta thấy phần ghi chép về làng Hưng Định như sau:
Xem thêm về các Làng thuộc tổng Bình Chánh Thượng năm 1836:
Vậy làng Hưng Định được
ông Nguyễn Thới Bình lập vào năm 1810, đời Đức Cao Hoàng (Gia Long), trên phần
đất có tên là xứ Ghe Tám.
Xem thêm bản đồ địa danh Hành chánh Nam Kỳ năm 1873
Bản đồ các Họ đạo ở Đông Dương thuộc Pháp năm 1888 của cha Adrien Launay.
1.
Thánh
Quí
Thánh Phêrô Đoàn
Công Quí
Linh mục tử đạo
Sinh năm 1826 hay là năm
1827
Tại: họ Ghe Tám, về sau
là họ Búng.
Thuộc về thôn Hưng Định,
tổng Bình Chánh Thượng, huyện Bình An, phủ Phước Long, trấn Biên Hòa.
Con ông Antôn Đoàn Công
Miêng và bà Anê Nguyễn Thị Trường
Con cái ông Đoàn Công
Miêng cả thảy là sáu người: 5 trai, 1 gái: Phêrô Đoàn Công Thới, Maria Đoàn Thị
Bường, Augustinô Đoàn Công Đã, Micae Đoàn Công Rạng, người thứ sáu là Antôn
Đoàn Công Báu và người thứ bảy là Phêrô Đoàn Công Quí là hai người sinh đôi.
Ông Đoàn Công Miêng sai
con thứ sáu là Antôn Báu đến ở với cha Tám là cha sở họ Búng, hầu dọn mình đi
Trường Chung Penang học làm thầy cả. Báu xin trở về, cho em lên thay. Phêrô Quí
ở với cha Tám ít lâu, mà bởi Cha này thấy người tài năng, trí khôn sâu sắc, lại
thật là nhơn đức, chắc sau này sẽ nên đèn soi cho mọi người tín hữu, thì gởi
người cho Đức Cha Gioang (Mgr. Miche), khi ấy còn làm bề trên địa phận Nam Kỳ,
lối năm 1847 là năm Đinh - Vị.
Ban đầu Đức Cha để người
trong nhà mình mà học cội rễ tiếng Latinh, sau cho người vào nhà trường ông
Thánh Giuse tại Thị Nghè, lúc ấy cha Hòa (Père Borelle) làm Bề trên cai trường.
Cách ít sau, Đức Cha liệu thế gởi người sang trường bên Poulo-Penang.
Phêrô Quí học tại trường
Penang đặng 7 năm từ tháng 01. 1849 đến năm 1855. Lối ngày 11 Avril năm 1855,
người về Nam Việt. Tháng 09. 1855 vua Tự Đức ban chiếu chỉ bắt đạo; ngày 07. 06.
1857 một chiếu chỉ gắt gao hơn. Thầy Quí phải lén lút phải lo “hóa huấn người dốt
nát, an ủi kẻ trễ tràng”, sai đi họ nọ sở kia, từ Lái Thiêu tới Thị Nghè…
Tháng 09. 1858 Đức Cha Ngãi
(Mgr. Lefebvre) phong chức Linh Mục cho thầy. Cha đi giúp họ Cái Mơn, thời cha
sở Giuse Tùng, sau đó đi họ Đầu Nước (Cù Lao Giêng), đến trọ nhà ông trùm Phụng.
Người ở tại họ Đầu Nước chín mười ngày, thì có hai người ngoại Nguyễn Văn Mưu
và Nén, ghét ông lý Phụng nên đầu đơn tố cáo đã ẩn tàng Tây Dương Đạo Trưởng.
Quan thượng Cao Hữu Dựt tỉnh
An Giang liền sai nhiều trăm quân xuống bắt. Cha Định (Jean-Claude Pernot) hay
tin vội chạy trốn, Phêrô Quí ở lại nhà Câu Phụng dọn đồ sợ kẻo quan lục lấy đặng
đồ tây thì làm khốn tài gia củng thiệt hại cho con chiên mình. Cha bị bắt cùng
32 người khác, lúc đó lối đầu canh ba ngày mồng 7 tháng Giêng tây năm 1859,
trong số đó có cả ông Câu Phụng. Cha bị giam trong ngục gần 7 tháng.
Trong lúc đó ngày
18.2.1859 Pháp hạ thành Gia Định. Vua đang lúc cuồng giận, hạ chỉ trảm quyết đạo
trưởng Phêrô Đoàn Công Quí y án bộ hình Châu Đốc. Sớ vô là ngày 30. 07. 1859 và
định xử ngày sau.
Sáng ngày 31. 07 thi hành
án cho ông Câu Phụng và Cha Quí. Quan quyền cho tả đao rằng: Hễ dứt ba tiếng
chiên, thì phải chém đầu người ba lát. Thằng tả đao liền thúc ké cha lại mạnh lắm,
đến nỗi ngực người lòi ra và rướm máu. Bắt Cha quỳ ngay, vén ót, đoạn nó tót
gươm ra mà chém. Lát thứ nhứt vừa mới đứt da, lát sau đứt một phần xương ót,
lát thứ ba gươm qua gần tới họng. Mà bỡi chưa đứt thì nó lại trở gươm cắt ngược
trước họng lại, lúc ấy đầu mới lìa cổ. Xác thánh nằm chính nơi chịu trảm quyết
đó từ chín giờ sớm mai ngày 31. 07 cho đến bảy giờ chiều, theo lính quan dạy.
Sau đó tín hữu rước xác
cha đem về họ Năng Gù, để một ngày một đêm cho bổn đạo tôn kính, đoạn mai táng
trên nền nhà thờ theo lễ phép Hội Thánh.
Đức Giáo Hoàng Piô X suy tôn Chân Phước cho linh mục Phêrô Đoàn Công Quí vào ngày 02. 05. 1909.
Ngày 19. 06. 1988, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II suy tôn linh mục Phêrô Đoàn Công Quí lên bậc Hiển Thánh.
Tên
đúng của Thánh Nhân là Quí
không phải là Quý.
-
Trong danh sách các Chủng sinh tại Trường
Chung Penang năm 1849 – 1850 ghi là Petrus Qui.
-
Trong Bảng thống kê các vị tử đạo học ở
Penang trước năm 1863 ghi: Petrus Quí
-
Trong “Le VÉNÉRABLE PIERRE QUÍ” nghĩa là “
Đấng Đáng Kính Phêrô QUÍ”. Bài nầy được viết ra trước khi Thánh Quí được phong
Á Thánh do Đức Giáo Hoàng PIÔ X, ngày 02/05/1909.
Ngày Lễ vọng Đức Mẹ Mông Triệu năm 2026.
Tưởng nhớ cố Linh mục Micae Lê Văn Khâm, Cha sở cựu,
nhân ngày giỗ (14. 08. 2022 – 14. 08. 2026)
Sanh Quới
Thứ Tư, 12 tháng 8, 2026
CÔNG GIÁO TẠI ĐỒNG BẰNG NAM BỘ TRONG CÁC THẾ KỶ XVII VÀ XVIII
CÔNG GIÁO TẠI ĐỒNG BẰNG
NAM BỘ TRONG
CÁC THẾ KỶ XVII VÀ XVIII
Tác giả: Lê Văn
Khuê
Người
Công giáo là một trong những nhóm người Việt đầu tiên di chuyển và định cư tại
đồng bằng Nam Bộ. Vì muốn tìm đất sống mới, hoặc do có óc phiêu lưu hoặc vì trốn
tránh sự cấm đạo của các chúa Nguyễn, khởi đầu họ đi lẻ tẻ theo những nhóm người
khác, dần dà họ đi khai phá miền đất mới theo cộng đoàn, sống tập trung theo từng
họ đạo khắp cả đồng bằng Nam Bộ, góp phần không ít làm nên khuôn mặt ngày nay của
đồng bằng này.
Bài này nhằm vẽ lại cách
thức du nhập và định cư của người Công giáo Việt Nam tại đồng bằng Nam bộ trong
hai thế kỷ XVII và XVIII, thời Trịnh Nguyễn phân tranh tới lúc Nguyễn Ánh lên
ngôi trên một nước Việt Nam thống nhất hai miền, qua đó rút ra những đặc điểm
mà miền đất mới đã tạo nên nơi cộng đồng Công giáo tại đây. Những vấn đề liên
quan tới sinh hoạt kinh tế, chính trị cũng như những vấn đề liên quan tới tổ chức
nội bộ có tính cách lịch sử tôn giáo sẽ không được đề cập tới trong bài này.
I. TÌNH HÌNH NGƯỜI CÔNG
GIÁO Ở XỨ ĐÀNG TRONG ĐẾN NĂM 1698
Người đầu tiên đem đạo
Công giáo đến xứ Đàng Trong không phải là các thừa sai Tây Phương mà là những
gia đình Công giáo người Nhật di dân tới Hội An sau vụ cấm đạo của Nhật Hoàng
vào đầu năm 1614. Bị xua đuổi khỏi nước Nhật, các thừa sai Tây Phương tìm tới
các giáo đoàn người Nhật phân tán tại các nước Đông Nam Á để tiếp tục củng cố
lòng đạo của họ. Nhóm thừa sai Tây Phương đầu tiên đến giáo đoàn người Nhật ở Hội
An vào ngày 18 tháng giêng năm 1615 gồm có linh mục Buzomi, người Ý, linh mục
Calvalho người Bồ và ba thầy giúp việc, một người Bồ và hai người Nhật, tất cả
đều thuộc dòng Tên. Từ việc củng cố lòng đạo của giáo đoàn người Nhật ở đây, họ
có dịp tiếp xúc với người Việt và bắt đầu truyền đạo cho người Việt.
Tuy nhiên, không phải trước
tiên qua các vị thừa sai này mà người Việt biết đến đạo Công giáo. Trước họ,
người Việt ở Hội An đã có dịp tiếp xúc với các linh mục tuyên úy trên các tàu
buôn Bồ Đào Nha lui tới buôn bán tại đây và thậm chí cũng đã có người được nhận
phép rửa tội. Những người Việt này vào lúc đó, vì ngôn ngữ bất đồng, hẳn chẳng
hiểu gì nhiều về đạo giáo. Giáo sĩ Gaspar Luis vào thời điểm này cũng nhận thấy
như thế. Giáo sĩ viết: “Ở Tourane (Đà Nẵng), những người địa phương mặc dù xem
ra họ chấp nhận lòng tin, nhưng họ chấp nhận vì lợi ích trần gian nhiều hơn là
vì tôn kính Thiên Chúa và vì sự cứu rỗi linh hồn họ” (“Lettre de Gaspar Luis
sur la Cochinchine”, tạp chí Bulletin des Amis du Vieux Hue số 3-4, 1931.).
Vào năm 1639 khi linh mục
Buzomi qua đời, tổng số người đi đạo, theo báo cáo của giáo sĩ De Rhodes, người
kế tục linh mục Buzomi, đã lên tới 12.000 người ở rải rác các tỉnh Quảng Ngãi,
Quy Nhơn, Nước Mặn và Huế. Con số này hẳn đã được thổi phồng quá đáng vì theo một
tư liệu khác (Đỗ Quang Chính, trg. 297), vào năm 1625 tức mười năm sau
khi linh mục Buzomi đặt chân lên Hội An, tổng số giáo dân chỉ mới trên dưới
1.200 người trong số đó 325 người ở Hội An, 602 người ở Nước Mặn và 306 người ở
Phú Yên. Trong số tín hữu vào thời điểm 1639, có một số quan lại hoặc thuộc
dòng tộc nhà chúa như một người cô của chúa Thượng thường được gọi là Minh Đức
Thái Phi, một quan phụ trách việc dạy dỗ con vua, quan tổng đốc tỉnh Quảng
Ngãi, còn đa số thuộc tầng lớp nông dân nghèo. Cũng cần nói thêm là kết quả
trên không phải chỉ do nhóm thừa sai đầu tiên của linh mục Buzomi, mà trong thời
gian từ 1615 - 1639, có 25 thừa sai đến xứ Đàng Trong, tất cả đều thuộc dòng
Tên, dưới quyền bảo trợ của nước Bồ Đào Nha.
Một biến cố quan trọng xảy
ra cho giáo hội xứ Đàng Trong vào tháng 8 năm 1659 là Tòa Thánh Roma thiết lập
địa phận Đàng Trong. Việc thiết lập này tách công việc truyền giáo tại xứ Đàng
Trong khỏi quyền bảo trợ của nước Bồ Đào Nha để thuộc quyền cai quản của Roma,
và giao cho Hội Truyền Giáo Paris.
Một biến cố khác cũng gây
trở ngại nặng nề cho việc phát triển của Công giáo tại đây, đó là việc các chúa
Nguyễn từ năm 1644 đã ra lệnh cấm truyền đạo Công giáo tại Đàng Trong và trục
xuất các thừa sai người ngoại quốc ra khỏi vùng đất của mình. Tuy nhiên, các thừa
sai vẫn trốn tránh được hoặc lén lút vào lại địa phận Đàng Trong để truyền đạo.
Trong giai đoạn này, vai trò của các thầy giảng người Việt tỏ ra khá hữu hiệu.
Họ là những người có lòng đạo và hiểu lẽ đạo nhiều nhất trong các họ đạo, được
huấn luyện đặc biệt để làm đầu các giáo đoàn. Nhờ vậy, mặc dù có sự cấm đạo,
giáo hội xứ Đàng Trong cũng có những bước phát triển nhất định. Theo báo cáo của
giáo sĩ Labbé thì vào năm 1693 toàn vương quốc có khoảng 200 nhà thờ vừa lớn vừa
nhỏ và khoảng trên dưới 30.000 người theo đạo (A. Launay, I, trg.396).
Vào năm 1698, thời điểm
Chưởng Cơ Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược xứ Đồng Nai và chiêu mộ dân định cư,
chúa Nguyễn xuống chỉ cấm đạo gay gắt hơn. Lần này không chỉ nhắm vào các thừa
sai ngoại quốc mà ngay cả tín hữu người Việt. Tất cả nhà thờ phải bị phá hủy,
giáo dân phải nộp thuế và làm sưu gấp ba lần, ai ở trong quân đội phải bị thải
hồi và sĩ quan thì bị giáng cấp. Kết quả là sau hai năm lệnh trên được thi
hành, 200 nhà thờ bị thiêu hủy, tất cả 13 thừa sai người Tây phương có mặt
trong vương quốc đều bị bắt mãi đến năm 1704 mới được thả, hàng ngàn giáo dân
phải chạy trốn vào rừng sâu, một số không nhỏ đã rời bỏ làng để trốn xuống phía
Nam.
II. NGƯỜI CÔNG GIÁO TẠI NAM BỘ: GIAI ĐOẠN
1623-1771
Người Việt theo đạo Công
giáo có mặt tại đồng bằng Nam Bộ này từ thời điểm nào? Theo tư liệu có được thì
thời điểm sớm nhất người ta gặp thấy người Việt theo đạo Công giáo ở Nam Bộ là
vào năm 1666 khi giáo sĩ Chevreuil và Hainques, hai người Pháp đầu tiên thuộc Hội
Truyền giáo Paris, từ Xiêm tìm cách lén vào Đàng Trong. Trên đường đi, giáo sĩ
Chevreuil gặp được một gia đình chủ thương thuyền tại Bà Rịa. Sau đó, giáo sĩ đến
một nơi được mô tả là “một thị trấn ở giữa sông” và được một quan người Việt có
đạo tiếp đón, cho phép làm lễ trước “sự hiện diện của một vài người Việt Công
giáo trốn tránh cấm đạo ở xứ Đàng Trong” (A. Launay, I, trg. 67).
“Thị trấn giữa sông” này
có lẽ là Cù Lao Phố thời bấy giờ. Như vậy, tuy số tín hữu Công giáo vào thời điểm
này, theo báo cáo của giáo sĩ Labbé, một người đã nghiên cứu kỹ lưỡng số lượng
người công giao khi giáo sĩ Chevreuil đến Đàng Trong, chỉ mới khoảng 5.000 người (A.
Launay, I, trg.396), nhưng hẳn cũng đã có một số giáo dân lui tới những vị trí
đầu tiên của người Việt tại Nam Bộ hoặc đi lập cư tại những nơi này. Có lẽ họ
đã bắt đầu đến những vị trí này từ năm 1644 khi có lệnh cấm đạo lần đầu tiên,
hoặc có thể sớm hơn nữa vì, cũng như những người Việt khác, họ di chuyển vào
Nam Bộ không chỉ vì trốn tránh cấm đạo mà còn vì kế sinh nhai, vì óc phiêu
lưu...
Vào thời điểm này, khó có
thể có được số lượng chính xác người Việt theo Công giáo tại Nam Bộ. Tuy nhiên
theo tác giả Trần Phổ, vào năm 1670, đã có một họ đạo khá lớn tại Xích Lam tức
Đất Đỏ, gần Bà Rịa, được ghi nhận là vào năm 1685 gồm khoảng 300 giáo dân. Tác
giả đưa ra con số này, nhưng không thấy nói tới xuất xứ. Thư của giáo sĩ Féret,
một người đã đến truyền đạo sớm tại vùng Phú Yên viết là vào năm 1692, “tại
Chiêm Thành và Cam-bốt có lẽ có tất cả gồm khoảng 300 tín hữu Công giáo, nhưng
ngoài ra còn có rất nhiều người Công giáo đến đây buôn bán. Họ sống cách nhau rất
xa, nơi này cách xa nơi kia nửa ngày đường” (A. Launay, I, trg.414). Phải
đợi mãi đến năm 1710 chúng ta mới có con số khá chính xác do giáo sĩ Labbé đưa
ra là 2.000 người. Cũng theo giáo sĩ này, ngay vào năm 1696 hoặc 1697, đã có một
giáo sĩ dòng Tên người Bồ Đào Nha tên là Pirez đến vùng Bến Gỗ xây dựng một nhà
thờ lớn và phụ trách số giáo dân ở đấy (A. Launay, I, trg.541).
Như vậy, có lẽ mãi cho đến
thời điểm này, người Công giáo tại Nam Bộ mới được tổ chức thành cộng đoàn và cử
hành nghi lễ chung với nhau. Trước đó, mặc dù họ đã có mặt nhưng vì vắng bóng
linh mục, thừa sai, họ không có sinh hoạt tôn giáo gì ngoài việc tập trung đọc
các kinh nguyện mà họ đã thuộc lòng khi còn ở nơi chôn nhau cắt rốn của họ. Điều
này mãi cho tới năm 1723 vẫn còn thấy phổ biến, khi linh mục José Garcia, dòng
Phanxicô, người có công nhiều nhất trong việc xây dựng giáo hội Công giáo Nam Bộ
từ những buổi ban đầu, đến phụ trách việc truyền đạo ở đây (4). Về phần thầy giảng
người bản xứ, thì chỉ thấy nói tới một thầy giảng già đã về hưu và bị bắt vào
năm 1699 (A. Launay, I, trg. 470).Sự vắng bóng những người điều hành tôn
giáo này chứng tỏ rằng việc di dân của người Công giáo vào Nam Bộ là hoàn toàn
do họ tự động thực hiện. Tuy nhiên, khi vào vùng đất mới, tôn giáo là yếu tố
quy tụ họ lại thành những nhóm nhỏ, sống lẫn lộn với những người Việt khác tại
những nơi mới khai khẩn.
Cũng vì thiếu linh mục,
thiếu thầy giảng, nên việc truyền giáo tại đây không được chú trọng lắm. Con số
2.000 người Công giáo ghi nhận được tại đây vào năm 1710 hẳn là do những đợt di
dân đến sau bổ sung. Đợt di dân lớn của người Công giáo sau này có lẽ xảy ra
vào năm 1698 khi Chưởng Cơ Nguyễn Hữu Cảnh chiêu mộ lưu dân vào Đồng Nai và sau
năm 1710, khi cuộc cấm đạo trở nên gay gắt hơn. Theo tác giả Trần Phổ, có một
nhóm lưu dân Công giáo Phường Đúc tại Huế đã di chuyển vào Sài Gòn trong những
năm 1710. Ở đây họ chung tiền cất được một ngôi nhà nguyện nhỏ ngay tại địa điểm
ngày nay là Chợ Quán (Trần Phổ, trg. 56). Chính địa điểm này vào năm
1723 khi linh mục José Garcia đến coi sóc, đã trở thành trung tâm của người
Công giáo Nam Bộ. Có thể nói rằng, cho đến năm 1750 và những năm sau đó, sự
phát triển của Công giáo tại đồng bằng Nam Bộ đều xuất phát từ trung tâm Chợ
Quán và do công sức của linh mục José Garcia và một nhóm nhỏ thầy giảng, cộng sự
viên của linh mục.
Vào buổi đầu khi mới đến,
công việc của linh mục Garcia không phải là đi truyền đạo cho người chưa theo
mà là đi tìm người lưu dân đã có đạo phân tán khắp nơi và quy tụ họ lại thành
nhóm nhỏ, từng họ đạo nhỏ. Nếu chúng ta lần theo vết chân của linh mục ngang dọc
khắp miền Nam Bộ để tìm kiếm và quy tụ người lưu dân Công giáo, chúng ta sẽ
phát hiện được vào những năm 40 của thế kỷ XVIII các địa điểm Công giáo tại
đây. Tổng số giáo dân Công giáo do dòng Phanxicô phụ trách là 5.500 người từ
Sài Gòn đến Hà Tiên, có 66 nơi thờ tự gồm 14 nhà thờ, 11 nhà nguyên và 41 bàn
thờ, tập trung tại 46 họ đạo lớn nhỏ ở trong 7 khu vực định cư như sau:
Khu vực thứ nhất chung
quanh Sài Gòn gồm 2.500 giáo dân, có một nhà thờ ở Chợ Quán, một ở Chợ Lớn, một
ở Bến Nghé và một nhà nguyện ở Rạch Cát.
Khu vực thứ hai nằm về
phía Bắc Sài Gòn, dọc theo sông Sài Gòn, có nhiều họ đạo và họ lớn nhất là Lái
Thiêu. Năm 1739 họ này đã có một nhà thờ rộng lớn với gần 400 giáo dân. Về phía
Tây Bắc có một vài nhóm lẻ tẻ ở vùng Trảng Bàng.
Khu vực thứ ba ở phía Nam
Sài Gòn, giữa ba con sông Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây và sông Sài Gòn, ở giữa lại
có hai đường thủy: sông Rạch Cát và sông Chợ Đệm. Ở khu vực này có nhiều họ đạo
nhỏ như Rạch Núi, Rạch Nhà Gẩm, Cần Đước, Khúc Răng, Cái Bè. Vì gần Sài Gòn nên
tất cả đều ăn về trung tâm Chợ Quán.
Khu vực thứ tư về phía
Nam sông Vàm Cỏ Tây, dọc theo con rạch nối liền sông này với sông Cửu Long, miền
này ngày nay là kinh Chợ Gạo, có hai nhóm giáo dân khá đông, một ở Chợ Rạch Lá,
trước năm 1739 gồm hơn 300 người, và một ở Cà Hoa, nay là Thủ Ngữ, cũng gồm hơn
200 người.
Khu vực thứ năm gồm có họ
đạo Cái Mơn với 900 giáo dân vào năm 1751 và Cái Nhum với 600 giáo dân và Cái
Bông có từ trước 1730 tại vùng Ba Tri, thuộc tỉnh Bến Tre ngày nay.
Khu vực thứ sáu dọc theo
phía Bắc sông Mỹ Tho là một vùng hình tam giác, đỉnh nam là Mỹ Tho, đỉnh bắc là
Vũng Gù, đỉnh tây là Cái Bè. Tại đây có nhiều nhóm giáo dân đến ở, nhất là dọc
theo kinh rạch nối liền Tân An - Mỹ Tho như Vũng Gù, Thân Trong, Bến Tranh, Rạch
Nam, Xoài Mút, Rạch Gầm, Ba Giòng.
Khu vực thứ bảy là vùng
Hà Tiên. Nơi đây đã có mặt người Công giáo từ đầu thế kỷ XVIII với một nhà nguyện
nhỏ, nơi thỉnh thoảng có linh mục theo tàu buôn đến sinh hoạt tôn giáo với họ
cùng với một số người Bồ Đào Nha. Vào năm 1721 hoặc 1722, có một số thừa sai
dòng Phanxicô ở Malacca đến phụ trách nhà nguyện này. Linh mục José Garcia đến Hà
Tiên lần thứ nhất vào năm 1735. Có một giáo dân người Việt là tay chân đắc lực
của Mạc Thiên Tứ, xin phép cho cất một nhà thờ mới, nhờ đó linh mục Garcia đã
lưu lại và phát triển họ đạo này. Năm 1734 giám mục Lefèbvre, đại diện Tông Tòa
và thuộc Hội Truyền Giáo Paris, đã đến ban phép thêm sức cho hơn 100 người lớn.
Vào năm 1745 một nhà thờ khác lại được xây lên và từ đó họ đạo Hà Tiên phát triển
nhanh chóng để vào năm 1750 khi việc cấm đạo trở nên gay gắt, trở thành nơi trú
ẩn cho tín hữu ở các vùng khác tới (Trần Phổ, trg. 52-53).
Ngoài bảy khu vực kể trên
thuộc quyền của các thừa sai dòng Phanxicô, phải kể đến một họ đạo khá lớn ở Bến
Gỗ tại Đồng Nai gồm 200 giáo dân, do các thừa sai Hội Truyền Giáo Paris cai quản
từ năm 1747 và các họ đạo nằm trong tỉnh Đồng Nai do các thừa sai dòng Tên phụ
trách sau này:
- Họ sông Đồng Nai: 400
giáo dân
- Họ Đá Lửa: 500 giáo
dân.
- Họ Bến Gỗ (khác với họ
đạo của các thừa sai Pháp): 250 giáo dân.
- Họ Lái Thiêu (khác với
họ đạo của các thừa sai Phanxicô): 400 giáo dân.
- Họ Kẻ Tất: 70 giáo dân
- Họ Đồng Môn: 40 giáo
dân
- Họ Sông Mô Xoài: 100
giáo dân
- Họ Bà Rịa: 140 giáo dân
- Họ Núi Lửa: 50 giáo dân
- Họ Đất Đỏ: 380 giáo dân
Nếu tính tổng số giáo dân
và họ đạo do cả ba bộ phận kể trên phụ trách thì vào thời điểm này, con số lên
tới khoảng 8.000 người rải rác trong 57 họ đạo lớn nhỏ khắp vùng Nam Bộ (A.
Launay, II, trg.190-191).
Đến đây khi giáo hội Nam
Bộ vừa có được một cơ sở như trên thì việc cấm đạo trở nên khốc liệt và sâu rộng
nhất từ trước tới nay. Hầu hết các nhà thờ, nhà nguyện vừa được xây dựng liền bị
phá đổ, tất cả bốn giáo sĩ phương Tây đang hoạt động trong vùng bị trục xuất,
mãi 13 năm sau mới vào lại được. Giáo dân tuy không bị bắt bớ gay gắt như ở các
tỉnh miền Trung, nhưng họ phải trốn tránh, tìm nơi khác làm ăn, đặc biệt là tại
Hà Tiên nơi Mạc Thiên Tứ không thi hành lệnh cấm đạo của triều đình Huế. Tiếp đến,
cuộc chiến kéo dài giữa triều đình chúa Nguyễn và Chân Lạp xảy ra từ năm 1743 lại
khiến cho người lưu dân Công giáo đã bị tản mác lại phải tản mác hơn nữa. Vừa bị
lùng bắt, vừa bị chiến tranh theo đuổi, vừa thiếu thừa sai, số giáo dân trong
thời gian này bị giảm sút rõ rệt.
Tuy nhiên, cũng vì phải
trốn tránh, tìm nơi nương thân, người lưu dân Công giáo đã có cơ hội tiến sâu
xuống đồng bằng sông Cửu Long. Theo ký sự của giáo sĩ Lavarasseur, vào năm
1768, trên đường đi từ Cam-bốt sang, dọc theo sông Ba Thác, linh mục đã tình cờ
gặp một nhóm lưu dân Công giáo gồm 30 người ở một làng gần cửa sông. Cách đó
không xa cũng có một làng được gọi là “Compongkerbu” được dựng lên bên bờ phía
Tây của con sông, rất gần biển gồm 12 lưu dân Công giáo (A. Launay, II,
trg.436).
Khi cuộc bắt đạo dịu dần
và các thừa sai Tây phương trở lại Nam Bộ vào năm 1763, giáo hội Công giáo được
chỉnh đốn lại sau 13 năm bị bách hại. Cũng từ thời điểm này, giáo dân Công giáo
ở các tỉnh miền Trung tiếp tục di cư với số lượng lớn vào các vùng Sài Gòn, Đồng
Nai và Long Hồ vì có chính sách của các quan lại địa phương muốn có người khẩn
hoang (A. Launay, II, trg.409). Với sự tăng trưởng của các đợt di dân
này, giáo hội tại Nam Bộ vào năm 1771 khi phong trào Tây Sơn nổi dậy, có được số
lượng người theo đạo khoảng 10.000 (A. Launay, III, trg.55).
III. CÔNG
GIÁO Ở NAM BỘ: GIAI ĐOẠN 1771-1788
Không ít người Công giáo ở
Đàng Trong tham gia phong trào Tây Sơn khá sớm, vì phong trào này không những
đã giải phóng họ với tư cách là nông dân khỏi sự áp bức của tầng lớp địa chủ mà
còn giải thoát họ khỏi cuộc bắt đạo của triều đình Huế (Taboulet, trg.
79). Không những họ có mặt nhiều trong các binh đội mà ngay tại chính quyền
trung ương cũng có nhiều vị quan cao cấp theo Công giáo (Đặng Phương Nghi,
trg. 169, 151). Chính sách tôn giáo đối với người theo Công giáo của Tây
Sơn, một phần có mục đích lôi kéo họ theo phong trào, vẫn được duy trì từ lúc nổi
dậy cho đến khi thành công. Sở dĩ về sau này, từ năm 1795, Tây Sơn xuống chỉ cấm
đạo, một phần là vì sự cấm đoán có tính cách giáo điều của các thừa sai Pháp đối
với việc thờ cúng tổ tiên, nhưng chủ yếu là vì thái độ chống đối Tây Sơn và ủng
hộ Nguyễn Ánh của các thừa sai Pháp (Louvet, I, trg. 517).
Riêng tại Nam Bộ, khi
phong trào Tây Sơn chưa lan tới, ngày 22 tháng 4 năm 1774, chúa Nguyễn sau khi
chạy trốn vào Gia Định, đã xuống dụ trả tự do cho những tín hữu Công giáo lâu
nay bị giam cầm và cho phép đạo được tự do hoạt động. Mục đích của dụ này là nhằm
tranh thủ sự ủng hộ của họ và của các thừa sai ngoại quốc để chống lại Tây Sơn.
Lợi dụng cơ hội, các thừa sai xuất hiện công khai, sửa nhà thờ cũ, cất nhà nguyện
mới. Linh mục Jumilla, dòng Phanxicô, người đã từng ở vùng chiếm đóng của Tây
Sơn tại Quảng Ngãi, theo chân chúa Nguyễn vào Sài Gòn, đã xây lại nhà thờ Chợ
Quán. Chính linh mục này đã che giấu Huệ Vương và cháu là Nguyễn Ánh khỏi cuộc
lùng bắt của Tây Sơn hai năm sau đó. Tại Hà Tiên, theo lời mời của Mạc Thiên Tứ,
giám mục Adran thiết lập một trụ sở tại Cây Quao cùng một chủng viện gồm khoảng
40 chủng sinh. “Ý định của Thiên Tứ”, theo Adran, “mặc dù có tính chất chính trị
nhưng có thể trở thành có lợi cho tôn giáo. Giám mục có ý thiết lập tòa giám mục
trong lãnh địa của họ Mạc nhằm lôi kéo một số tín hữu Công giáo đến đây” (A.
Launay, III, trg.66). Cho nên mặc dù sợ chiến tranh lan tới, giám mục
Adran vẫn chấp nhận và đã quy tụ được khoảng trên dưới 500 giáo dân Công giáo.
Những tín hữu này là những người đã trốn tránh chiến tranh từ Đồng Nai tới vào
đầu năm 1776, khi quân Tây Sơn đem thủy quân vượt biển đánh Gia Định và chiếm
Sài Gòn lần thứ nhất. Từ năm 1776 đến năm 1783, người dân Nam Bộ phải trải qua
một cuộc chiến khốc liệt giữa Tây Sơn và Nguyễn Ánh. Tây Sơn bốn lần tiến đánh,
có lần kéo dài suốt bảy tháng và Nguyễn Ánh cũng bốn lần chiếm lại. Chỉ có hai
khoảng thời gian tương đối bằng yên là từ năm 1778-1783 và từ 1783-1787, khoảng
đầu do Nguyễn Ánh làm chủ tình hình và khoảng sau dưới quyền cai trị của Tây
Sơn.
Khỏi cần phải nói, trong
thời gian chiến tranh này, số giáo dân bị giảm sút rất nhiều, vì loạn lạc, vì
đói khát, vì bị cả hai bên cùng bắt lính. Trong khi đó các sinh hoạt tôn giáo
và truyền đạo bị tình hình làm ngưng trệ trầm trọng. Một giáo sĩ đương thời đã
mô tả như sau: “Dân chúng bị đè nặng dưới những ách không thể chịu nổi phải trốn
chạy và lang thang khắp miền để tránh các luật lệ vừa nhiều lại vừa nặng: họ
thay đổi chỗ ở và đổi tỉnh mỗi ngày” (Taboulet, trg. 77).
Trong khoảng thời gian
tương đối bình yên lần thứ nhất, lợi dụng việc Nguyễn Ánh thâu phục lại Gia Định
vào đầu năm 1778, giám mục Adran dời chủng viện từ Cây Quao về Tân Triều, Đồng
Nai, đồng thời tổ chức lại các sinh hoạt tôn giáo tại vùng đất này. Cũng trong
thời gian này, theo chính sách tăng gia sản xuất để nuôi quân của Nguyễn Ánh, một
số đông đảo tín hữu Công giáo đã di chuyển đến khẩn hoang tại Cái Đôi, bên kia
bờ Hậu Giang, giữa đồng hoang nơi có rạch ngòi chi chít. Một đoàn tín hữu khác
cũng đã đến Cù Lao Giêng. Năm 1779, một đoàn người tị nạn Công giáo khác đến vỡ
đất tại Lò Ót (22). Những đoàn người này từ đâu đến? Sử liệu không thấy nói tới,
nhưng chúng ta đoán có lẽ họ từ những vùng bị thiệt hại nhiều nhất vì chiến
tranh và cũng là nơi có thể trở thành chiến trường thêm một lần nữa.
Và quả đúng như vậy, vào
tháng 3 năm 1782, quân Tây Sơn, một lần nữa tiến đánh Gia Định, cuộc tiến đánh
này kéo dài suốt bảy tháng ròng. Giáo dân lại một lần nữa bị tản mác. Giám mục
Adran cùng với chủng viện phải chạy trốn, để lại ba linh mục người Việt và một
thừa sai dòng Phanxicô người Tây Ban Nha. Vào tháng 10 năm đó, Nguyễn Ánh chiếm
lại được dinh Gia Định lần thứ ba, giám mục Adran cùng đoàn tùy tùng lại trở về
Nam Bộ, đến họ Mạc Bắc, nơi tương đối ít bị chiến tranh chi phối và có số giáo
dân khá đông. Tại đây giám mục quy tụ các thừa sai gồm một linh mục người Pháp,
hai linh mục dòng Phanxicô người Tây Ban Nha và ba linh mục người Việt để phân
công chỉnh đốn lại các họ đạo trong vùng. Từ thời điểm này đến tháng 3 năm 1783
khi quân Tây Sơn đánh chiếm Gia Định lần thứ tư, các thừa sai đã rửa tội được
93 người lớn (Louvet, I, trg. 404), nhưng sau đó lại phải bỏ các họ đạo
để chạy trốn sự truy lùng của quân Tây Sơn, trừ hai linh mục người Việt, một ẩn
náu trong họ đạo Lái Thiêu và một ở Sa Đéc. Sự chiếm đóng Gia Định và các tỉnh
phía nam lần này của quân Tây Sơn kéo dài mãi đến tháng 5 năm 1788. Tình hình
trong giai đoạn này tương đối yên ổn, nhờ đó chúng ta có thể thấy được sinh hoạt
của người giáo dân Công giáo cũng như chính sách của Tây Sơn đối với họ.
Quân Tây Sơn phân biệt rõ
rệt các giáo sĩ dòng Phanxicô người Tây Ban Nha với các giáo sĩ người Pháp cùng
những người làm việc cho giám mục Adran. Trong khi các giáo sĩ Tây Ban Nha được
tự do truyền giáo thì các thừa sai Pháp và các linh mục người Việt vẫn bị truy
lùng, vì họ biết rõ giám mục Adran và các thừa sai Pháp tiếp tay cho Nguyễn
Ánh. Một linh mục người Việt, linh mục Anrê Tôn, đã kể lại như sau: “Các thừa
sai Phanxicô được hoạt động tông đồ công khai, đã giúp đỡ với tất cả khả năng của
họ những giáo dân từ mọi nơi đến, và tôi, theo chân họ, tôi cũng giúp đỡ nhưng
chỉ khi đêm xuống và cách kín đáo, những ai đến với tôi...” (A. Launay,
II, trg.83). Còn đối với giáo dân, quân Tây Sơn không những để cho họ tự
do hành đạo mà đôi khi che chở bảo vệ họ như tại Hà Tiên và Sài Gòn. Tại Hà
Tiên, một giáo sĩ đã mô tả tình hình như sau: “Có lẽ không cần phải nhắc lại
chuyện vị quan này (của Tây Sơn) ở đây rất được dân chúng yêu thích, và lòng tử
tế của ông đối với các thừa sai cũng như đối với người dân Công giáo đã khiến
chúng tôi xem ông như người bảo vệ chúng tôi... Nhờ sự che chở của ông, người
Công giáo dám công khai tụ họp để hành lễ...” (Taboulet, trg. 94). Ngay
tại Sài Gòn, người giáo dân Công giáo cũng được hưởng sự tự do hành đạo tương tự
và có liên hệ tốt với chính quyền Tây Sơn. Việc này được biểu hiện rõ trong câu
chuyện hai linh mục dòng Phanxicô là Ginestar và Casuera bị bắt và được thả ra.
Hai thừa sai này trốn chạy theo giám mục Adran, nhưng giữa đường thì bị bắt lại
và được dẫn từ Hà Tiên về Sài Gòn.
Khi nghe tin hai người
này đến Sài Gòn, tức thời các thầy giảng thuộc các họ đạo ở khu vực này đến gặp
“vị quan lớn”, có lẽ là phò mã Trương Văn Đa hoặc Lưu Thủ Hóa, để xin bảo lãnh
cho họ. Vị quan liền ra lệnh cho tất cả các thầy giảng của tất cả các họ đạo
trong vùng đến hạ kiến và ông đã nói với họ những lời sau đây: “Do một ân huệ đặc
biệt của tôi mà hai thừa sai ở giữa các ông. Để đáp lại tôi không đòi hỏi các
ông vàng bạc, tiền bạc, nhưng chỉ đòi các ông biết ơn tôi và giúp tôi lập lại
hòa bình trong vương quốc...” (Taboulet, trg. 96).
Tuy nhiên trong giai đoạn
này, con số giáo dân phát triển như thế nào thì không có tư liệu rõ rệt cho
chúng ta biết, ngoài số lượng 8.000 người tính được khi Nguyễn Ánh thu phục Gia
Định lần thứ tư vào cuối năm 1787 (A. Launay, III, trg.273). Nếu so với
con số 10.000 người vào năm 1771 thì đã rõ là sau 16 năm giáo hội Nam Bộ không
tiến gì thêm mà còn bị thiệt hại về số lượng, chưa nói tới sự vắng bóng các
sinh hoạt tôn giáo, vì chiến tranh, vì thiếu thừa sai, thầy giảng. Giáo sĩ
Lelabousse, một người đã hoạt động trong giai đoạn này đã tổng kết như sau:
“Tôi đau khổ nhìn thấy gia nghiệp của Thiên Chúa đã phải chịu thiệt hại rất nhiều,
giữa muôn vàn xáo trộn. Cuộc chiến dai dẳng này đã gây tổn thất rất nhiều ở
đây... Những họ đạo trước rất đông nay chỉ còn chưa tới nửa. Dân chúng người
thì chết vì gươm giáo, người thì chết vì đói khát, người thì đi chinh chiến,
người thì đến các tỉnh khác... Một số rất lớn tín hữu đã không xưng tội từ 15,
20, 30 năm và hơn nữa, đa số không xưng tội từ 6 đến 8 năm nay...” (A.
Launay, II, trg.221).
IV. CÔNG GIÁO TẠI NAM BỘ: GIAI ĐOẠN
1788-1802
Tháng 10 năm 1787, Nguyễn
Ánh chiếm lại được Gia Định và vào tháng 7 năm 1789 giám mục Adran cùng Hoàng tử
Cảnh trở về Sài Gòn sau chuyến công du cầu viện nước Pháp thất bại. Giám mục
mang theo 8 thừa sai.
Các thừa sai mới tới này
được dẫn đến yết kiến Nguyễn Ánh. Dựa vào thế lực của Nguyễn Ánh, các vị thừa
sai này được tự do truyền đạo, được trọng vọng hơn cả các quan lại, thậm chí
các quan còn phải nể sợ. Một giáo sĩ hoạt động lúc đó đã viết như sau: “Các thừa
sai ở Nam Bộ được làm tất cả những gì họ muốn... Mọi người đều kính trọng họ, vị
nể họ, họ hoạt động với bộ máy tổ chức lớn là không ai cản trở họ” (A.
Launay, II, trg.221).
Trong giai đoạn này chúng
ta thấy rõ hai địa bàn hoạt động của các thừa sai, địa bàn thứ nhất là triều
đình Nguyễn Ánh ở Sài Gòn và địa bàn thứ hai là giữa dân chúng. Địa bàn thứ nhất
do giám mục Adran phụ trách nhằm gây cơ sở cho việc hoạt động của các thừa sai
khác ở địa bàn thứ nhất.
Tại triều đình, mục tiêu
của giám mục Adran cũng như của tất cả các giáo sĩ người Pháp là khuyến dụ Nguyễn
Ánh theo đạo Công giáo. Nhưng với thời gian, khi thấy mục tiêu này khó đạt được,
các giáo sĩ dồn tất cả nỗ lực về phía Hoàng Tử Cảnh và các quan lại trong triều
đình. Niềm hy vọng của họ là “nếu hoàng tử một ngày nào đó trị vì thì Công giáo
sẽ được lợi” (A. Launay, II, trg.284).
Ở địa bàn thứ hai, trong
những năm đầu thế kỷ từ khi Nguyễn Ánh chiếm lại Gia Định lần cuối, là giai đoạn
thuận lợi hơn hết, nhưng kết quả không được khả quan bằng ở địa bàn thứ nhất.
Tuy với lực lượng thừa sai nòng cốt gồm 5 giáo sĩ người Pháp, 3 thừa sai người
Tây Ban Nha dòng Phanxicô và ba linh mục bản xứ, là một lực lượng lớn nhất từ
trước tới nay tại Nam Bộ, cộng với sự tự do truyền giáo được Nguyễn Ánh cho
phép, nhưng giáo hội ở Nam Bộ không tiến triển nhiều. Giám mục Adran báo cáo
vào năm 1791 như sau: “Việc truyền giáo tiến rất ít. Đời sống đắt đỏ, công việc
tạp dịch... tất cả đều ngăn trở việc rao giảng Tin Mừng. Tuy nhiên, cũng có những
người ngoài đi theo đạo nhưng với một số lượng quá nhỏ đối với giáo hội này nên
chúng tôi kể hầu như không có gì. Số người lớn được rửa tội trong năm này không
lên tới 300” (A. Launay, III, trg.223). Vào năm 1792 bản báo cáo của giám
mục viết tiếp: “Công cuộc truyền giáo cũng gần giống như năm trước”.
Rồi đến năm tiếp theo
chúng ta cũng đọc thấy rằng: “Đạo giáo tiến rất chậm ở đây” (A. Launay,
III, trg.,262). Tóm lại từ năm 1791 đến 1798 số người lớn đi theo đạo chỉ
đạt được trung bình 300 người mỗi năm.
Lý do của tình trạng trì
trệ này, theo sự đánh giá của giáo sĩ Liot, người đã hoạt động đương thời, là
vì “việc chuẩn bị liên tục cho chiến tranh khiến người ngoài đạo ít nghĩ đến
chuyện linh hồn, do đó có ít người đi theo đạo” (A. Launay, III, trg.264). Nhưng
đối với giáo sĩ Lelabousse, một người cũng hoạt động cùng thời, thì nguyên nhân
của tình trạng trên là sự sợ sệt, sự lười biếng hoặc sự nể nang (A.
Launay, II, trg.264). Sợ sệt ở đây là sợ quân Tây Sơn có thể chiếm lại Gia
Định và ra tay trả thù các thừa sai Tây phương và những ai theo họ. Bởi vì việc
các giáo sĩ người Pháp giúp Nguyễn Ánh đã quá hiển nhiên, nhưng việc cộng đồng
giáo dân Công giáo Nam Bộ ủng hộ Nguyễn Ánh cũng không phải là chuyện bí mật
gì. Thực vậy, trong một trang ký sự, giáo sĩ Letondal đã ghi lại như sau:
“Trong lúc ở Đồng Nai người ta biết được việc bảo vệ vị trí Nha Trang, tất cả mọi
người ở Sài Gòn đều nói là nếu không có người công giáo, không có giám mục và
ông Olivier thì quân Tây Sơn rất có thể đã chiếm lại tất cả những gì nhà vua có
được từ 6 năm nay” (A. Launay, III, trg.300). Do đó, nếu đi theo đạo
của các giáo sĩ này thì có nguy cơ bị trả thù. Mà việc Tây Sơn trở lại không phải
không thể xảy đến trong giai đoạn này. Chính giám mục Adran cũng nhìn thấy khả
năng đó khi ngài viết: “Nhà vua đã đè nặng lên dân chúng những thuế má và tạp dịch,
và trong giai đoạn này, người dân quá khổ sở đến nỗi họ muốn sự trở lại của
quân Tây Sơn” (A. Launay, III, trg.294). Giáo sĩ Lelabousse còn viết
rõ hơn: “Dân chúng bất mãn với nhà vua và dọa kêu gọi quân Tây Sơn trở lại đây,
với hy vọng được đối xử tốt hơn” (A. Launay, III, tr.296).
Tuy nhiên có một thành quả
khá rõ rệt của giáo hội Nam Bộ trong giai đoạn này là việc đào tạo các chủng
sinh bản xứ để trở thành linh mục. Vào tháng 8 năm 1791, theo lời đề nghị của
Nguyễn Ánh, chủng viện đặt tại Chantabun trong những ngày trốn tránh quân Tây
Sơn, được dời về lại Tân Triều ở Đồng Nai. Vào năm 1789, giám mục Adran lại cho
xây dựng một cơ sở khác tại Lái Thiêu để làm Đại Chủng Viện gồm 34 người, còn
cơ sở tại Tân Triều trở thành Tiểu Chủng Viện gồm 20 em. Đến năm 1799, Đại Chủng
Viện còn 24 người, số kia trở thành linh mục, và tiểu chủng viện tăng lên 50
em.
Tóm lại, trong giai đoạn
thứ ba này, tuy hoàn cảnh chính trị có phần thuận lợi với sự ủng hộ của Nguyễn
Ánh, nhưng giáo hội Công giáo Nam Bộ tiến triển chậm vì lý do chiến tranh. Tuy
nhiên về mặt định cư tại đồng bằng Nam Bộ, nếu chúng ta lấy danh sách các họ đạo
được thiết lập vào những năm giữa thế kỷ XVIII và đối chiếu với danh sách các họ
đạo được thiết lập vào năm 1813, tức 13 năm sau thời điểm của chúng ta đang đề
cập, tuy nó không chính xác lắm vì có những họ đạo lúc đó chưa được hình thành,
thì chúng ta cũng có được một ý niệm khá rõ rệt về tình hình định cư của các
tín hữu Công giáo tại đây. Vào lúc này giáo hội Công giáo có được 16.000 tín hữu
sống rải rác trong các họ đạo được phân bổ như sau: tỉnh Tam Lạch: 58 họ đạo, tỉnh
Đồng Nai: 69 họ đạo và tỉnh sông sâu tức Hậu Giang: 21 họ đạo (A. Launay,
III, tr. 262). Trong khi đó vào năm 1744, người tín hữu Công giáo chỉ tập trung
trong 57 họ đạo và chỉ có mặt tại các vùng chung quanh Sài Gòn, Đồng Nai, Mỹ
Tho như đã nói ở trên.
Con số tín hữu và họ đạo ở
trên là kết quả của hai thế kỷ du nhập và phát triển của đạo Công giáo tại đồng
bằng Nam Bộ, một kết quả rất giới hạn so với tình hình ở Đàng Ngoài. Ngay tại
giai đoạn đầu tiên từ 1624-1648 trong khi đàng Ngoài có 195.777 người theo đạo
thì ở Đàng Trong chỉ có 5.000 người. Đó là chưa nói tới chất lượng hoặc tinh thần
của người đi theo đạo ở Nam Bộ. Giáo sĩ Lavoué, một người đã hoạt động tại đây
viết: “Họ không gắn bó với đạo giáo như những người công giáo ở các tỉnh phía
trong (Trung kỳ)” (A. Launay, III, tr.274).
Để giải thích sự kiện
này, ngoài các lý do như loạn lạc, giặc giã, như được nêu lên trên đây, còn phải
kể đến một lý do gắn liền với vùng đất mới là vùng đất Nam Bộ vào buổi đầu người
Việt tới khai phá này, đó là sự biến động của dân cư vốn là những nông dân luôn
trên đường đi tìm đất để khai phá, như một giáo sĩ đã mô tả: “Bởi vì chúng tôi
ít thừa sai, lại hầu như luôn luôn phải di chuyển, và hơn nữa người Việt ở đây
sống trong một tình trạng biến động liên tục, thay đổi nơi ăn chốn ở với bất cứ
lý do gì... nên hầu như không thể làm khác hơn những gì chúng tôi đã làm, chúng
tôi buộc phải rửa tội họ như là người ta bắt cá, nghĩa là ngay khi họ xuất hiện,
với hy vọng nếu số đông này mất đi thì ít ra chúng tôi cũng cứu được vài người”
( A. Launay, I, tr.614).
Những điều trên đây mô tả
tình hình ở tỉnh địa đầu của xứ Đàng Trong vào năm 1713, nhưng lại càng thích hợp
hơn cho tình hình Nam Bộ trong giai đoạn mới khẩn hoang. Thực vậy, người lưu
dân ở đây di chuyển không ngừng, vì đất còn rộng, người còn thưa. Điều kiện
không gian này đã tạo cho con người vốn dĩ đã có tính phiêu lưu một tinh thần tự
do rất lớn. Một giáo sĩ hoạt động trong vùng đã viết: “Thực khó lòng bó buộc họ
giữ các điều răn của giáo hội, bởi vì buộc họ làm bất cứ điều gì là chuyện vô
phương thực hiện” ( A. Launay, I, tr.615). Hơn nữa, cũng vì điều kiện
không gian không thể quy tụ họ vào phạm vi nhỏ hẹp và có nề nếp của một thôn
xóm có lũy tre bao bọc như ở đàng Ngoài, tính tự do này không có gì cản trở lại
càng được phát triển. Thêm vào đó, các cuộc chiến tranh giữa họ Nguyễn với Chân
Lạp vào những năm 1731-1733, với Xiêm vào những năm 1752-1759 và cuộc nội chiến
giữa Tây Sơn và Nguyễn Ánh, đã phá vỡ tất cả những tổ chức hay nề nếp đã có thể
có được.
Với tình trạng tổ chức và
tình hình người tín hữu như thế, công việc chủ yếu của giáo hội Nam Bộ khi hòa
bình được lập lại vào đầu thế kỷ XIX là xây dựng và củng cố trên cơ sở dựa vào
sự nhân nhượng của Nguyễn Ánh, đồng thời phải đối phó với ngọn lửa chống đối âm
ỉ của các quan lại.
1. “Lettre de Gaspar Luis
sur la Cochinchine”, tạp chí Bulletin des Amis du Vieux Hue số 3-4, 1931.
2. A. Launay, Histoire
de la Mission de Cochinchine 1658- 1823, Documents Historiques, Maisonneuve
Frères, Paris 1924, tập I (1658-1728); II (1728-1771); III (1771- 1823).
3. Trần Phổ, Dòng
Phanxicô trên đất Việt, Sài Gòn 1975, ronéo.
4. Taboulet, “La Révolte
et la guerre des Tayson d'après les Franciscains Espagnols”, tạp chí B.S.E.I. tập
XV-1940.
5. Đặng Phương Nghi, “Triều
đại Quang Trung dưới mắt các nhà truyền giáo Tây phương”, Sử-Địa, số 13, 1969.
6. Louvet, La
Cochinchine Religieuse, tập I và tập II, Ernest Leroux, Paris, 1885.
7. Nguyễn Văn Hầu, “Sự
thôn thuộc và khai thác đất Tầm Phong Long”. Sử Địa 19-20, 1970.
8. Đỗ Quang Chính, Giáo
trình Lịch sử Xã hội Việt Nam, thế kỷ XVII - XVIII, bản viết tay của tác giả,
Sài Gòn 1973-1974.
Trích Tập san Hiệp Thông / HĐGM VN, Số 87 (Tháng 3 & 4 năm
2015)






