Thứ Năm, 5 tháng 11, 2026

Xóm Đạo

XÓM ĐẠO

Chánh Lưu là làng rẫy về hạt Thủ Dầu Một, số dân làng nầy ít cùng quê mùa, mà đất cát rộng lớn minh mông, bốn phía tinh là đồng gò hiu quạnh, mắt ngó thăm thẳm, có một xóm người ta ở, thì thấy hàng tre xanh vòng bao và cây cao mịt mù, xem như một cồn nổi giữa biển.
Người trong làng phần nhiều hơn rất nghèo khó, chẳng mấy ai dư giã cho lắm, phải nhọc nhằn làm lụng cả năm mới có đủ ăn là phước. Xứ rẫy bái nhờ có một mùa mưa, nên hễ nước ướt đất vừa cày đặng, thì ai nấy lo cày trở đất lăng xăng; kẻ có ít miếng ruộng triền dựa theo khe suối bưng hốc, thì lấy làm có phước cùng lo làm hết sức, công lực rất đỗi mà huê lợi chẳng bao nhiêu; kẻ khác lo trồng khoai củ, đậu, mè, đất xem hạp khá. Hết công việc ngoài đồng thì rút lo việc trong nhà, nghề đương đát tưởng là nghề riêng của người ở rẫy. Những nia thúng giần sàng ta dùng, đó là đồ làm trong mùa mưa.
Mùa ướt xem còn vui, vì gần xóm thấy người bươn bả lăng xăng chỗ đám đậu đám dưa, ngó ra đồng thấy cỏ mọc xanh, chồi bụi ra lá, trâu bò mập mạp ăn chạy khua mõ khua chuông, nghe cũng vui tai đặng một thuở.
Sang qua mùa nắng mọi điều liền đổi khác như đen với trắng, đồng gò ra hiêu quạnh, chồi bụi hết xanh, mọi vật xem tuồng như chết hết; cỏ xanh xưa như nệm chiếu trải che đất, nay lớp khô lớp cháy bày đất sạch. Từ nửa buổi qua xế ngó thấy đỏ sao mệt mắt, kẻ đi rẫy qua mấy đồng lớn nầy thì lo giục bò chạy riết cho tới xóm, hay là nhắm tới chòm cây nào đặng nghỉ đụt nắng.
Trên gò lớn giữa đồng rộng nầy, thường kẻ qua đàng cùng lũ chăn trâu bò, quen đụt nắng dưới bóng một cây xoài thanh, cách ít bước đó có giếng loạn cùng mả mồ xưa, lại thêm có tiếng đồn nơi ấy có ma. Đây là đồng Chánh Lưu, có cây xoài thanh trọi trọi một mình đứng giữa gò, nhành tàng sum sê cao vọi vọi, nó lớn có hơn ba ôm, và mấy kẻ thấy nhắm ước nó có trên trăm năm không sai.

Ai đã trồng cây xoài nầy? và nó có hồi thuở nào? chẳng một ai nói đặng. Dầu cây xoài nầy không tiếng, song nó đứng đó mà chứng sự một tích trong đời trước; người trong xứ cùng kẻ qua đàng thấy vọi cây nầy, thì liền chỉ nói: đó Xóm Đạo! Một cây có trái ăn nuôi người cùng những nấm mồ mả xưa còn sót lại, dù chỉ cho người phải có kẻ vun trồng cây cối và mở mang đất cát, lại đông người ở thì mới kêu là xóm, và thường dùng tên người hay là tên vật mà chỉ xóm như xưa nay; song có một chỗ nầy thì dùng một tên chung và là tên trọng mà kêu: Xóm Đạo!

Tiếng đạo trổng một mình chẳng chỉ các đạo, song chỉ một mình đạo Thiên Chúa, và những người ngoại giáo biết chỗ nầy đều hiểu như vậy. Vậy đây là xóm kẻ giữ đạo Thiên Chúa. Mà những kẻ ấy rày ở đâu? Chẳng còn một ai sót lại sao?

Mấy người ngoại biết chút chi về chỗ nầy, thì làm như tuồng sợ sệt nói sơ qua cho rồi. Tưởng chẳng phải những kẻ ấy rõ chắc đều gì mà muốn giấu, song vì việc dị đoan quá, nên sợ nói đến Xóm Đạo mà mình vương phải tai họa. Đây xin phớt qua ba tiếng về dị đoan người ta tin chỗ nầy linh. Người trong làng Chánh Lưu thường hay nhắc truyện những ai đã cất nhà nơi Xóm Đạo, thì ở yên chẳng đặng, kẻ nói thấy thể nầy người thể khác; rằng phải ma phá và phải dỡ nhà đem ra xa một đỗi chỗ xóm bây giờ; có người lại nói quả quyết tai đã nghe tiếng giục thúc phải ra khỏi Xóm Đạo, vì máu oan chưa phai, hãy còn dầm đất! Có kẻ dạn ở nán lại ít lâu, song sau cũng phải dời chỗ; nên gò nầy hiu quạnh vắng vẻ như xưa. Kẻ qua đàng lại còn thêm nhiều đều khác và tin quyết: ai vô lễ chẳng cầu vái mà dám bước vào cùng dựa bóng cây xoài thanh, thì những hồn Xóm Đạo chẳng để về yên! Ấy bởi sự sợ sệt mà bày ra những chuyện như vậy.

Chỗ nầy khi xưa là một họ bổn đạo khá đông, cũng có nhà hội, khi tới lễ bổn đạo hay có cha đến, thì ai nấy đều tựu lại nhà hội, nghe nói khi ấy đông đảo vui vầy lắm. Song có một đêm kia quan quân đến bao lén và giết sạch cả xóm đạo. Vốn thuở cấm kín, nhiều họ lập gần rừng, đặng khi có động dụng thì dễ ẩn mình; lại mấy họ ấy thường là chỗ các cha tạm trú, lánh tay quan quyền tầm bắt, ấy là ý người xưa lo xa; song bởi xa xuôi thì khó bề tin tức, nên họ nầy phải quan quân đến hở cơ, mà giết trụm hết trong một đêm; kẻ thì phải gươm dao đâm chém, người phải xô sống chôn cùng những thây xác trong mấy giếng loạn: còn nhà cữa cây cối vườn tược, thì chất đống làm bổi đốt ra tro; của cải thì phân chia tứ tán!

Bởi vậy đất Xóm Đạo uống máu oan nầy đã hơn trăm năm, thầm giữ những thây con nhà có đạo, cùng biết kiêng dè khủng sợ, chẳng để một ai vi động, chẳng chịu cho ai ở gần, mà giày đạp trên máu các kẻ đã phải đổ ra vì Chúa, cùng trên xác những kẻ đã phải giết vì đạo Người.

J. Y.

.Báo Nam Kỳ Địa Phận năm 1911

Thứ Hai, 2 tháng 11, 2026

Danh sách quý Linh mục Địa phận Saigon đã qua đời

DANH SÁCH QUÝ LINH MỤC ĐỊA PHẬN SAIGON ĐÃ QUA ĐỜI

Trích sổ tử của Địa phận.

Requiem aeternam dona eis, Domine, et lux perpetua luceat eis. R.I.P. Amen.

VĨNH QUANG CHIẾU CHI.

 

Nguồn: Lược sử Địa phận Saigon

 

Thứ Hai, 26 tháng 10, 2026

Linh mục Phanxicô Xaviê Trần Đức Nhân

Linh mục Phanxicô Xaviê Trần Đức Nhân


-         Sinh năm: 1849

-         Tại họ Đất Đỏ

-         Con ông Phêrô Trần Văn Ái và bà Madalena Nguyễn Thị Thủ

-         Chịu chức Linh mục ngày 07. 06. 1879, do Đức Giám mục Isidore Colombert

-         Linh mục Địa phận Tây Đàng Trong

-         Từ tháng 06. 1879 – 09. 07. 1881: Phó sở Thị Nghè

-         Từ ngày 09.  07. 1881 – 01.  09. 1886: Phó sở Búng

-         Từ ngày 01. 09. 1886 – 22. 11. 1893: Cha sở họ Bến Sắn

-          Từ ngày 22. 11. 1893 – 1896: Phó sở Mặc Bắc. Coi sóc họ Tân Thành

-         Năm 1896 - 1928: Cha sở họ Tân Thành

-         Năm 1928 – 1935: Hưu dưỡng tại họ đạo Tân Thành

-         Qua đời ngày 26. 01. 1935

-         Mai táng tại Đất thánh Họ đạo Tân Thành

COMMUNIQUÉS DE L’ÉVÊCHÉ

Đức Cha xin các Linh mục và các Giáo hữu giúp lời cầu nguyện cho cha Phanxicô Xaviê Nhân đã qua đời tại Tân Thành ngày 26 Janvier 1935.

Các Linh mục trong địa phận phải làm 3 lễ theo lệ và rao cho bổn đạo các họ cầu lễ cho linh hồn cha Phanxicô.

-------------

Cha Phanxicô Nhân sinh ra tại họ Đất Đỏ năm 1849.

Đức Cha Isidore Colombert truyền chức linh mục cho ngài ngày mồng 07 tháng Juin năm 1879, chịu chức rồi Ngài làm phó tại họ Thị Nghè. Ngày 09 Juillet 1881 ngài làm cha phó ở họ Búng.

Qua mồng 01 Septembre 1886, ngài coi sóc họ Bến Sắn. Từ ngày 22 Novembre 1893, thì ngài coi sóc họ Tân Thành và ở đó cho tới ngày qua đời.

--------------------

Cha François Nhân li trần

Cha Phanxicô Nhân là một vị linh mục cao niên, đứng về hạng nhì trong sổ hàng đạc đức bổn quốc địa phận Saigon, Ngài mừng lễ Ngũ tuần Chánh tế cách 5 năm nay. Hôm ngày mồng 5 Juillet 1932, lên cấm phòng thường niên với các cha, ghé nghỉ tại nhà cha sở Chợ Đũi, ban đêm đi rủi sẩy chơn té xệ xương hông, liền đó thuốc men điều trị chí lực mà không lại… Từ ấy tới nay gần 2 năm rưỡi, Ngài phải thọ bịnh, đứng đi chẳng đặng, song Ngài cũng an lòng vưng theo ý Chúa.

Hôm tuần rồi bịnh trở nặng, mệt nhiều, đàm lên chận cổ thường, nên chiều ngày 21 Janvier, có cha Frison qua thăm, thi ngài xin cha Frison  làm phép xức dầu thánh cho ngài trước mặt ba cha và bổn đạo trong họ… Đến ngày 26 Janvier, Ngài đã sinh thì bằng an trong tay Chúa, giữa những người yêu dấu mến thương!

Qua ngày thứ hai, 28 Janvier, đã làm lễ Qui lăng cùng an táng ngài tại họ tân Thành. Hưởng thọ 85 tuổi, làm việc tông đồ 55 năm, coi sóc họ Tân Thành 41 năm.

. Báo Nam Kỳ Địa Phận năm 1935.

Thứ Ba, 20 tháng 10, 2026

Nữ tu Anna Nguyễn Thị Xanh

Nữ tu Anna Nguyễn Thị Xanh


-         Sinh ngày 25. 05. 1951

-          Tại Hưng Định, Thủ Dầu Một

-         Vào Dòng ngày 29. 06. 1968

-         Tu sĩ Dòng MTG Thủ Thiêm

-         Sơ lược quá trình phục vụ Giáo hội và Hội dòng:

-         Năm 1974 – 1975: Tân Hội

-         Năm 1975 – 1996: Lộc Hưng

-         Năm 1996 – 2002: Bến Sắn

-         Năm 2002 – 2010: Hàng Gòn

-         Năm 2010 – 2011: Cầu Xáng

-         Năm 2011 – 2016: Tân Lập

-         Năm 2016 – 2018: Bến Sắn

-         Năm 2018 – 2020: Cát Tiên

-         Năm 2020 – 2022: Tân Uyên

-         Năm 2022 – 2023: Dưỡng bệnh

-         Năm 2023 – 2025: Tân Uyên

-         Năm 2025 – 2026: Nhà hưu -  Hội dòng.

-         Qua đời hồi 12 giờ 05 phút ngày 20. 10. 2026

-         Hưởng thọ 75 tuổi, Khấn Dòng 52 năm.

-          Hỏa táng tại Hòa Lạc Viên, Đồng Nai


Chủ Nhật, 11 tháng 10, 2026

Các Địa Sở và Linh Mục Địa phận Tây Đàng Trong từ năm 1882 đến năm 1918

Địa Phận Tây Đàng Trong

Các Địa Sở và Linh Mục từ năm 1882 đến năm 1918

----------------------------

Trong một thời gian dài, Biên niên sử của chúng tôi đã đăng tải một số bài viết về việc Truyền giáo ở Địa phận Tây Đàng Trong (xem số 121 và 122); bài viết nầy sẽ bổ sung cho chúng.

Các tài liệu mà chúng tôi dùng để biên soạn danh sách nầy, ngoại trừ các Giám mục, chỉ bắt đầu từ năm 1882, vì vậy, chúng tôi rất tiếc không thể truy tìm thông tin mà chúng tôi đang công bố xa hơn nữa.

Đức Cha Quinton, Giám mục phó Địa phận Tây Đàng Trong, đã vui lòng xem xét lại danh sách nầy và bảo đảm tính chính xác của nó.

-------------------------------

CÁC GIÁM MỤC

Đại diện Tông tòa.

LEFEBVRE,        Giám mục Isauropolis              1844 - 1864.

MICHE,                Giám mục Dansara                  1864 - 1873.

COLOMBERT,     Giám mục Samosata                 1873 - 1894.

DÉPIERRE,          Giám mục Benda                      1895 - 1898.

MOSSARD,          Giám mục Médéa                      1899 –

Giám mục phó

QUINTON, Giám mục Laranda        1912 –

Nguồn: https://irfa.paris/

Bản đồ Địa phận Tây Đàng Trong năm 1889 của Linh mục Adrien Launay


Nguồn: https://irfa.paris/


Thứ Sáu, 14 tháng 8, 2026

Họ Đạo Búng – Làng Hưng Định: Một thoáng nhìn lại.

 Họ Đạo Búng – Làng Hưng Định: Một thoáng nhìn lại.

1.     Họ Ghe Tám tiền thân của Họ Búng.

Chúng ta cùng đọc lại Chuyên khảo người Công giáo xứ Búng, do Linh mục Louis-Marie Joseph Martin (Nghi), cha sở họ Búng từ năm 1901 – 1916, viết ra ngày 10 tháng 02 năm 1911:

“ Vùng đất ngày nay tạo ra họ đạo Búng và Bình Sơn vào cuối thế kỷ 18, xưa kia thuộc về người Chăm (Ciampois). Họ bỏ vùng đất này không trồng trọt vì nước ngập phần lớn, nhưng đất này phì nhiêu nhờ phù sa mà sông Sài Gòn bồi đắp, nên người Việt đã nhận ra và đến cư trú ở đây.

Những người tín hữu đầu tiên đến từ Huế. Những cuộc chiến tranh liên miên trong thời kỳ này ở vùng họ ở, và mọi thứ nhũng nhiễu họ phải chịu đựng trong thời kỳ bách hại, bắt buộc họ phải chọn một nơi yên ổn hơn và có tự do hơn một chút.

 Xứ Búng ở cạnh Lái Thiêu là nơi bạn của Gia Long là Đức Giám mục Adran (Bá Đa Lộc) cư trú, dường như qui tụ đầy đủ những điều kiện như họ ao ước để làm nên cơ sở này.

Ông Hương, Tùng, Bời, Dũi, Ở là những người đầu tiên đến cư trú tại Búng.

Tất cả họ là người (Công giáo) đạo dòng. Họ tụ tập tại nhà ông Bời để cầu nguyện. Để sinh sống, họ chăn nuôi bò và trâu, cũng như nuôi tằm. Sau đó, họ bắt đầu khai khẩn đất đai và trồng trọt, nên sau một thời gian ngắn, họ đã sống tương đối đầy đủ.

Ngôi nhà nguyện đầu tiên được xây dựng chỉ từ thế kỷ 19, và nằm trên phần đất của một người tên Nhờ. Nhưng vì được dựng bằng những vật liệu ít giá trị, nên khi mái tranh bị hư, người ta mới cất một ngôi nhà nguyện khác, tiện nghi hơn, nằm trên phần đất của ông Ràng, và lần này nhà nguyện được lợp bằng ngói.

Trên nơi cao ở xứ Búng có cây sao đẹp. Các người có đạo đã chặt nó xuống để đóng một chiếc ghe và họ dâng tặng cho vua Gia Long. Chiếc ghe này có chiều dài tám tam (tầm ?), nên người có đạo mang tên là Ghe Tám cho đến khi người Pháp đến (khoảng 1862).

Các người công giáo khác dần dần đến cư ngụ ở tại Ghe Tám và tạo ra một số dân có đạo khoảng 300 người; thỉnh thoảng các cha ngụ ở Lái Thiêu đến thăm họ. Vì xứ này chỉ toàn là bụi cây và ít người ở, nên họ không có những người lương theo đạo, và họ lôi kéo bà con và bạn bè của họ đến ở với họ…”.

Qua bài Chuyên khảo của cha Martin (Nghi), giúp chúng ta có cơ sở để truy nguyên về quá khứ xa xưa, khoảng 250 năm hình thành và phát triển của họ Búng.

Lượt lại những điểm chính, ta thấy:

-         Họ Ghe Tám có từ cuối thế kỷ 18, khoảng thời gian từ năm 1750 đến 1799.

-         Những người có đạo lúc ban đầu là các ông Hương, Tùng, Bời, Dũi, Ở và những người đầu tiên đến từ Huế.

-         Họ Ghe Tám kéo dài từ cuối thế kỷ 18 đến khi Pháp thuộc (khoảng năm 1862) và được đổi tên thành họ Búng từ đó.

Thật vậy, coi lại Bảng thống kê các họ đạo ở Đàng Trong năm 1747, của cha Adrien Launay, thì chưa thấy có họ Ghe tám. Đến sau các cha Thừa Sai vẽ bản đồ các Họ đạo ở Đàng Trong và do ngài Solminihac, một nhà Bản đồ học, xuất bản năm 1786 thì thấy có tên Họ Ghe Tám bên cạnh các họ lớn như: Lái Thiêu, Đá Lửa (Tân Triều)…

Bản đồ các Họ đạo ở Đàng Trong năm 1786: 

Nguồn: https://gallica.bnf.fr/ark

Vậy họ Ghe Tám có từ khoảng thời gian nào?

Cha Martin kể lại: “Xứ Búng ở cạnh Lái Thiêu là nơi bạn của Gia Long là Đức Giám mục Adran (Bá Đa Lộc) cư trú, dường như qui tụ đầy đủ những điều kiện như họ ao ước để làm nên cơ sở này”.

Coi lại ta thấy: Nhà thờ Họ đạo Lái Thiêu đầu tiên lập tại chợ Cây Me có bàn thờ Chúa do Đức Giám mục Bá Đa Lộc cho xây đơn sơ từ năm 1771, là người cai quản giáo phận Nam Đàng Trong và cả nhà thờ Lái Thiêu vì lúc bấy giờ Lái Thiêu là trung tâm của cả giáo phận". (Xem Họ đạo Lái Thiêu theo dòng lịch sử của Kts Nguyễn Văn Giàu. Saigon, 06. 04. 2011). Họ Ghe Tám ở gần Lái Thiêu, khi mới hình thành với 05 gia đình, nhưng được các Thừa Sai biết đến và tới lui làm lễ, làm phước và được ghi nhận là Họ đạo với tên gọi là Ghe Tám, mặc dù số nhân danh ban dầu còn rất khiêm tốn.

Cha Martin kể tiếp: “Trên nơi cao ở xứ Búng có cây sao đẹp. Các người có đạo đã chặt nó xuống để đóng một chiếc ghe và họ dâng tặng cho vua Gia Long (đúng hơn là Nguyễn Ánh). Chiếc ghe này có chiều dài tám tam (tầm ?), nên người có đạo mang tên là Ghe Tám cho đến khi người Pháp đến (khoảng 1862).

Vậy những người có đạo dâng tặng chiếc ghe tám cho Nguyễn Ánh khi nào? 

Chúng ta cùng nhìn lại những năm tháng Nguyễn Ánh ở trong xứ Gia Định và đời sống của người Công giáo nói chung tại Gia Định, cách riêng là họ Ghe Tám lúc mới hình thành họ đạo: “Riêng tại Nam Bộ (Gia Định), khi phong trào Tây Sơn chưa lan tới, ngày 22 tháng 4 năm 1774, chúa Nguyễn sau khi chạy trốn vào Gia Định, đã xuống dụ trả tự do cho những tín hữu Công giáo lâu nay bị giam cầm và cho phép đạo được tự do hoạt động. Mục đích của dụ này là nhằm tranh thủ sự ủng hộ của họ và của các thừa sai ngoại quốc để chống lại Tây Sơn. Lợi dụng cơ hội, các thừa sai xuất hiện công khai, sửa nhà thờ cũ, cất nhà nguyện mới. Linh mục Jumilla, dòng Phanxicô, người đã từng ở vùng chiếm đóng của Tây Sơn tại Quảng Ngãi, theo chân chúa Nguyễn vào Sài Gòn, đã xây lại nhà thờ Chợ Quán. Chính linh mục này đã che giấu Huệ Vương và cháu là Nguyễn Ánh khỏi cuộc lùng bắt của Tây Sơn hai năm sau đó. Tại Hà Tiên, theo lời mời của Mạc Thiên Tứ, giám mục Adran thiết lập một trụ sở tại Cây Quao cùng một chủng viện gồm khoảng 40 chủng sinh. “Ý định của Thiên Tứ”, theo Adran, “mặc dù có tính chất chính trị nhưng có thể trở thành có lợi cho tôn giáo. Giám mục có ý thiết lập tòa giám mục trong lãnh địa của họ Mạc nhằm lôi kéo một số tín hữu Công giáo đến đây” (A. Launay, III, trg.66). Cho nên mặc dù sợ chiến tranh lan tới, giám mục Adran vẫn chấp nhận và đã quy tụ được khoảng trên dưới 500 giáo dân Công giáo. Những tín hữu này là những người đã trốn tránh chiến tranh từ Đồng Nai tới vào đầu năm 1776, khi quân Tây Sơn đem thủy quân vượt biển đánh Gia Định và chiếm Sài Gòn lần thứ nhất. Từ năm 1776 đến năm 1783, người dân Nam Bộ phải trải qua một cuộc chiến khốc liệt giữa Tây Sơn và Nguyễn Ánh. Tây Sơn bốn lần tiến đánh, có lần kéo dài suốt bảy tháng và Nguyễn Ánh cũng bốn lần chiếm lại. Chỉ có hai khoảng thời gian tương đối bằng yên là từ năm 1778-1783 và từ 1783-1787, khoảng đầu do Nguyễn Ánh làm chủ tình hình và khoảng sau dưới quyền cai trị của Tây Sơn.

Khỏi cần phải nói, trong thời gian chiến tranh này, số giáo dân bị giảm sút rất nhiều, vì loạn lạc, vì đói khát, vì bị cả hai bên cùng bắt lính. Trong khi đó các sinh hoạt tôn giáo và truyền đạo bị tình hình làm ngưng trệ trầm trọng. Một giáo sĩ đương thời đã mô tả như sau: “Dân chúng bị đè nặng dưới những ách không thể chịu nổi phải trốn chạy và lang thang khắp miền để tránh các luật lệ vừa nhiều lại vừa nặng: họ thay đổi chỗ ở và đổi tỉnh mỗi ngày” (Taboulet, trg. 77).

Trong khoảng thời gian tương đối bình yên lần thứ nhất, lợi dụng việc Nguyễn Ánh thâu phục lại Gia Định vào đầu năm 1778, giám mục Adran dời chủng viện từ Cây Quao về Tân Triều, Đồng Nai, đồng thời tổ chức lại các sinh hoạt tôn giáo tại vùng đất này.” (Theo Lê Văn Khuê - Người Công giáo tại đồng bằng Nam Bộ trong các thế kỷ 17 và 18.)

Với những gì được đọc ở trên, chúng ta có thể ước đoán, những người có đạo ở họ Ghe Tám dâng tặng lên Nguyễn Ánh chiếc ghe tám, qua Đức Giám mục Bá Đa Lộc, không sớm hơn năm 1777 đến khoảng 1780 là năm Nguyễn Ánh xưng vương ở Gia Định.

Tóm lại: Nhóm người có đạo sinh sống gần Lái Thiêu vào khoảng năm 1770, đến khoảng năm 1780 thì được gọi Họ đạo với tên là Ghe Tám. Những người đầu tiên đến từ Huế, là gia đình các ông Hương, Tùng, Bời, Dũi, Ở.

Vậy, tuy không đoan chắc điều chi những việc ông bà tổ tiên đã từng trãi qua, nhưng bằng bút tích của cha sở Martin (Nghi), chúng ta hoàn toàn có thể dựa vào đó mà tìm về nguồn gốc, tuy không được chính xác bằng tháng năm cụ thể, nhưng với một quá khứ xa xôi như vậy, thì đó cũng là niềm phấn khởi của những kẻ hậu sinh luôn mong muốn tìm hiểu về gốc tích quê hương xứ sở của mình.

Vậy trong ¼ thế kỷ từ khi hình thành họ đạo đến đầu thế kỷ thứ 19, họ Ghe Tám có được ổn định số nhân danh như lúc ban đầu, hay là tăng thêm, hay là giảm đi vì những ảnh hưởng chung của thời cuộc, chiến tranh liên miên giữa nhà Tây Sơn với Nguyễn Ánh, thiếu vắng linh mục coi sóc, không có người ở các nơi lân cận thêm vào, đất đai còn hoang sơ nhiều. Nhìn chung là không có gì rõ ràng trong giao đoạn nầy.

Cha Martin (Nghi) cũng cho biết nhà thờ đầu tiên của họ Ghe Tám chỉ mới có từ đầu thế kỷ 19. Thật vậy, xứ Ghe Tám thật sự khởi sắc khi cuộc chiến giữa nhà Tây Sơn và Nguyễn Ánh kết thúc vào năm 1802. Nhiều đợt di dân từ các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, Huế… vào lập nghiệp nơi xứ Ghe Tám. Tiền nhân nếu không phải là quan binh của nhà Tây Sơn tìm nơi lánh thân thì cũng là những người có đạo tìm nơi đất mới để sinh sống và giữ đạo.

Vậy, công cuộc chiêu mộ thêm dân, khai khẩn thêm đất hoang để mở rộng xứ, khởi xướng xây dựng Nhà thờ đầu tiên có Ban Quới Chức, phân chia ranh giới để lập Làng có Ban Hội Tề với đầy đủ chức phận đã được diễn ra như thế nào?. Mọi việc đã rành rành từ thời vua Gia Long trở về sau.

Ý nghĩa của địa danh Ghe Tám?

Cha Martin (Nghi) viết trong Chuyên khảo người Công giáo xứ Búng về địa danh Ghe Tám: “Trên nơi cao ở xứ Búng có cây sao đẹp. Các người có đạo đã chặt nó xuống để đóng một chiếc ghe và họ dâng tặng cho vua Gia Long (đúng hơn là Nguyễn Ánh). Chiếc ghe này có chiều dài tám tam (tầm ?) nên người có đạo mang tên là Ghe Tám cho đến khi người Pháp đến.”

Tầm: theo sách Từ Nguyên, 1 tầm bằng 8 thước (tương đương 6 feet của Anh), được quy đổi chính xác là 1,825 mét. Theo chú thích của dịch giả Phan Đăng trong Hoàng Việt Nhất Thống Dư Địa Chí năm 1806 của Lê Quang Định, trang 8. Vậy chiếc ghe dài tám tầm tương đương với 14.6 mét.

Trong Đại Nam Quấc Âm Tự Vị, Tome II, trang 333 – Huình Tịnh Paulus Của. Có chú giải mục Ghe Tám: Tên xứ thuộc huyện Bình An (Thủ Dầu Một). Ghe tám bổ.

Ghe tám bổ là loại ghe (thường là ghe độc mộc) có tám bổ chèo (cọc chèo/cột chèo) dành cho tám người chèo nên ghe di chuyển rất nhanh, có nguồn ghi là tám mái chèo thì cũng nhằm. Ngoài ghe tám bổ, còn nghe biết trong dân gian còn có ghe sáu bổ, ghe bốn bổ.

Vậy, tóm gọn lại như sau: Những người có đạo, ở gần Lái Thiêu, chặt một cây sao đẹp trong vùng của họ ở và làm thành một chiếc ghe độc mộc dài khoảng 14.6 mét, có tám cọc chèo, qua Đức Giám mục Bá Đa Lộc, họ dâng tặng cho Nguyễn Ánh và được ngài ban cho hay gọi xứ đó là Ghe Tám.

2.     Xứ Ghe Tám - Làng Hưng Định.

Ông Antôn Nguyễn Thới Linh, cháu 5 đời của ông Bình, người lập ra làng Hưng Định, viết trong Tiểu sử Làng Hưng Định – Họ Búng, xin trích:

“ …song Làng Hưng Định khai sinh sau thời Gia Long phục quốc, là năm 1810, bằng chứng là theo di bút của ông Tính (cháu nội ông Bình) để lại, khi qui dân lập ấp xong xuôi rồi, lập sớ gởi về Kinh xin thần phục và gia nhập Tổng Bình Chánh, với một Ban Hội Tề có đầy đủ chức phận.”

“ song song với việc lập làng, cất công sở ở đất ngoài (Hưng Thọ/ Cầu Ngang bây giờ), thì nơi ấp trong (Hưng Lộc) cũng đang dựng lên một ngôi thánh đường có Ban Quới Chức và tự nhiên người xướng lập lãnh vai ông Trùm”.

Năm 1810, năm Gia Long thứ 9, làng Hưng định thuộc về tổng Bình Chánh, huyện Bình An, phủ Phước Long, trấn Biên Hòa.

Đến năm 1821, năm Minh Mạng thứ 2, làng Hưng Định thuộc về tổng Bình Chánh Thượng, huyện Bình An, Phủ Phước Long, trấn Biên Hòa.

Đến năm 1832, năm Minh Mạng thứ 13, đổi trấn Biên Hòa thành tỉnh Biên Hòa.

Đến năm 1836, vua Minh Mạng cho đo đạc để lập địa bạ Lục Tỉnh Nam Kỳ.

Lúc nầy thôn Hưng Định thuộc về tổng Bình Chánh Thượng, huyện Bình An, phủ Phước Long, tỉnh Biên Hòa.

Nghiên cứu Địa bạ triều Nguyễn – Biên Hòa của Nhà Sử học Nguyễn Đình Đầu, ta thấy phần ghi chép về làng Hưng Định như sau:

Xem thêm về các Làng thuộc tổng Bình Chánh Thượng năm 1836:

Vậy làng Hưng Định được ông Nguyễn Thới Bình lập vào năm 1810, đời Đức Cao Hoàng (Gia Long), trên phần đất có tên là xứ Ghe Tám.

Xem thêm bản đồ địa danh Hành chánh Nam Kỳ năm 1873

Bản đồ các Họ đạo ở Đông Dương thuộc Pháp năm 1888 của cha Adrien Launay.


1.     Thánh Quí

Thánh Phêrô Đoàn Công Quí

Linh mục tử đạo

Sinh năm 1826 hay là năm 1827

Tại: họ Ghe Tám, về sau là họ Búng.

Thuộc về thôn Hưng Định, tổng Bình Chánh Thượng, huyện Bình An, phủ Phước Long, trấn Biên Hòa.

Con ông Antôn Đoàn Công Miêng và bà Anê Nguyễn Thị Trường

Con cái ông Đoàn Công Miêng cả thảy là sáu người: 5 trai, 1 gái: Phêrô Đoàn Công Thới, Maria Đoàn Thị Bường, Augustinô Đoàn Công Đã, Micae Đoàn Công Rạng, người thứ sáu là Antôn Đoàn Công Báu và người thứ bảy là Phêrô Đoàn Công Quí là hai người sinh đôi.

Ông Đoàn Công Miêng sai con thứ sáu là Antôn Báu đến ở với cha Tám là cha sở họ Búng, hầu dọn mình đi Trường Chung Penang học làm thầy cả. Báu xin trở về, cho em lên thay. Phêrô Quí ở với cha Tám ít lâu, mà bởi Cha này thấy người tài năng, trí khôn sâu sắc, lại thật là nhơn đức, chắc sau này sẽ nên đèn soi cho mọi người tín hữu, thì gởi người cho Đức Cha Gioang (Mgr. Miche), khi ấy còn làm bề trên địa phận Nam Kỳ, lối năm 1847 là năm Đinh - Vị.

Ban đầu Đức Cha để người trong nhà mình mà học cội rễ tiếng Latinh, sau cho người vào nhà trường ông Thánh Giuse tại Thị Nghè, lúc ấy cha Hòa (Père Borelle) làm Bề trên cai trường. Cách ít sau, Đức Cha liệu thế gởi người sang trường bên Poulo-Penang.

Phêrô Quí học tại trường Penang đặng 7 năm từ tháng 01. 1849 đến năm 1855. Lối ngày 11 Avril năm 1855, người về Nam Việt. Tháng 09. 1855 vua Tự Đức ban chiếu chỉ bắt đạo; ngày 07. 06. 1857 một chiếu chỉ gắt gao hơn. Thầy Quí phải lén lút phải lo “hóa huấn người dốt nát, an ủi kẻ trễ tràng”, sai đi họ nọ sở kia, từ Lái Thiêu tới Thị Nghè…

Tháng 09. 1858 Đức Cha Ngãi (Mgr. Lefebvre) phong chức Linh Mục cho thầy. Cha đi giúp họ Cái Mơn, thời cha sở Giuse Tùng, sau đó đi họ Đầu Nước (Cù Lao Giêng), đến trọ nhà ông trùm Phụng. Người ở tại họ Đầu Nước chín mười ngày, thì có hai người ngoại Nguyễn Văn Mưu và Nén, ghét ông lý Phụng nên đầu đơn tố cáo đã ẩn tàng Tây Dương Đạo Trưởng.

Quan thượng Cao Hữu Dựt tỉnh An Giang liền sai nhiều trăm quân xuống bắt. Cha Định (Jean-Claude Pernot) hay tin vội chạy trốn, Phêrô Quí ở lại nhà Câu Phụng dọn đồ sợ kẻo quan lục lấy đặng đồ tây thì làm khốn tài gia củng thiệt hại cho con chiên mình. Cha bị bắt cùng 32 người khác, lúc đó lối đầu canh ba ngày mồng 7 tháng Giêng tây năm 1859, trong số đó có cả ông Câu Phụng. Cha bị giam trong ngục gần 7 tháng.

Trong lúc đó ngày 18.2.1859 Pháp hạ thành Gia Định. Vua đang lúc cuồng giận, hạ chỉ trảm quyết đạo trưởng Phêrô Đoàn Công Quí y án bộ hình Châu Đốc. Sớ vô là ngày 30. 07. 1859 và định xử ngày sau.

Sáng ngày 31. 07 thi hành án cho ông Câu Phụng và Cha Quí. Quan quyền cho tả đao rằng: Hễ dứt ba tiếng chiên, thì phải chém đầu người ba lát. Thằng tả đao liền thúc ké cha lại mạnh lắm, đến nỗi ngực người lòi ra và rướm máu. Bắt Cha quỳ ngay, vén ót, đoạn nó tót gươm ra mà chém. Lát thứ nhứt vừa mới đứt da, lát sau đứt một phần xương ót, lát thứ ba gươm qua gần tới họng. Mà bỡi chưa đứt thì nó lại trở gươm cắt ngược trước họng lại, lúc ấy đầu mới lìa cổ. Xác thánh nằm chính nơi chịu trảm quyết đó từ chín giờ sớm mai ngày 31. 07 cho đến bảy giờ chiều, theo lính quan dạy.

Sau đó tín hữu rước xác cha đem về họ Năng Gù, để một ngày một đêm cho bổn đạo tôn kính, đoạn mai táng trên nền nhà thờ theo lễ phép Hội Thánh.

Đức Giáo Hoàng Piô X suy tôn Chân Phước cho linh mục Phêrô Đoàn Công Quí vào ngày 02. 05. 1909.

Ngày 19. 06. 1988, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II suy tôn linh mục Phêrô Đoàn Công Quí lên bậc Hiển Thánh.

Tên đúng của Thánh Nhân là Quí không phải là Quý.

-         Trong danh sách các Chủng sinh tại Trường Chung Penang năm 1849 – 1850 ghi là Petrus Qui.

 

-         Trong Bảng thống kê các vị tử đạo học ở Penang trước năm 1863 ghi: Petrus  Quí


-         Trong “Le VÉNÉRABLE PIERRE QUÍ” nghĩa là “ Đấng Đáng Kính Phêrô QUÍ”. Bài nầy được viết ra trước khi Thánh Quí được phong Á Thánh do Đức Giáo Hoàng PIÔ X, ngày 02/05/1909.



Ngày Lễ vọng Đức Mẹ Mông Triệu năm 2026.

Tưởng nhớ cố Linh mục Micae Lê Văn Khâm, Cha sở cựu, nhân ngày giỗ (14. 08. 2022 – 14. 08. 2026)

Sanh Quới