Danh sách các Linh mục Bổn quốc Địa Phận Sài Gòn năm 1956
Thứ Sáu, 18 tháng 9, 2026
Thứ Tư, 30 tháng 6, 2021
Tại sao tiếng Anh lại gọi Ông già Noël là Santa Claus?
ĐỘC GIẢ: Tại sao tiếng Anh lại gọi Ông già Noël là Santa Claus?
AN
CHI:
Người Anh cũng nói Father Chrismas, tương đương với tiếng Pháp Père Noël , để
chỉ Ông già Noël. Còn Santa Claus thì
bắt nguồn từ tiếng Hà Lan Sant Nikolaas,
tức Thánh Nicolas. Thánh Nicolas sống
vào thế kỷ thứ IV, nguyên là linh mục ở Myra, vùng Lycie thuộc Tây Nam bán đảo
Tiểu Á. Ông là thánh bảo trợ của nước Nga và của trẻ em. Có người lại nói rằng
ông là thánh bảo trợ cho thuyền nhân, thương nhân và trẻ em. Ông được sùng bái ở
Cận Đông và châu Âu, đặc biệt là ở Ý, tại Bari là nơi còn lưu giữ được nhiều
thánh tích của ông. Ông thường ban phát quà cho trẻ em vào đêm Giáng sinh hàng
năm nên được xem là tượng trưng cho ông già Noël. Xin lưu ý rằng tiếng Anh vẫn
gọi Thánh Nicolas là Saint Nicholas, còn Santa Claus thì lại là Ông già Noël và
bắt nguồn từ tiếng Hà Lan Sant Nikolaas.
Kiến
thức ngày nay, số 128, ngày 1-1-1994.
Thứ Hai, 28 tháng 6, 2021
Kiến thức ngày nay, số 113, Chuyện Đông chuyện Tây, có nói đến tiếng Afrikaans và giảng rằng đó là tiếng Hà Lan nói ở Nam Phi. Xin cho biết rõ về thứ tiếng đặc biệt này.
ĐỘC GIẢ: Kiến thức ngày nay, số 113, Chuyện Đông chuyện Tây, có nói đến tiếng Afrikaans và giảng rằng đó là tiếng Hà Lan nói ở Nam Phi. Xin cho biết rõ về thứ tiếng đặc biệt này.
AN
CHI:
Tiếng Afrifaans là một thứ tiếng Hà Lan pha tạp mà chính dân lập nghiệp Hà Lan ở
Nam Phi chấp nhận và truyền bá. Bên cạnh tiếng Anh, nó đã trở thành một trong
hai ngôn ngữ chính thức của Nam Phi theo ý nghĩa đầy đủ nhất của mấy tiếng này
và là ngôn ngữ pha tạp duy nhất trên thới giới có được quy chế đó.
Năm 1652, người Hà Lan đã đổ bộ lên Mũi Hảo Vọng (cực
Nam châu Phi) và xây dựng thành phố Mũi Đất (tiếng Afrikaans: Kaapstad, tiếng Anh: Capetown, có người viết Cape Town) để làm trạm dừng chân từ Đại
Tây Dương sang Ấn Độ Dương (bấy giờ chưa có kênh Suez). Tại thành phố mới tạo lập
này, thứ tiếng pha tạp đó, mà nền tảng là tiếng Hà Lan, đã phát triển nhanh
chóng thành một phương tiện giao tiếp đắc lực và đầy hiệu quả giữa dân châu Âu
với nhân công gốc Phi. Trẻ con sinh ra tại đây, bất kể nòi giống, dần dần tự
nhiên trở thành dân “bản ngữ” của thứ tiếng pha tạp đó, góp phần biến nó thành
phương tiện giao tiếp chủ yếu giữa người gốc Âu và người gốc Phi. Khi những lưu
dân Hà Lan càng đi sâu vào nội địa Nam Phi thì ngôn ngữ mới mẻ này phát triển
càng rộng, càng xa. Tuy nhiên tiếng Hà Lan chính gốc vẫn còn là ngôn ngữ viết của
họ. Tình hình ngôn ngữ trở nên phức tạp hơn khi người Anh thiết lập thuộc địa tại
vùng Mũi Hảo Vọng vào năm 1806. Từ đây, bắt đầu một thời kỳ Anh hóa. Tiếng Anh
trở thành ngôn ngữ chính thức và ngôn ngữ của xã hội thượng lưu. Năm 1820, di
dân người Anh tiến xa về hướng Đông. Những tiếng Afrikaans, mặc dù không có tư
cách chính thức, vẫn tiếp tục là ngôn ngữ được dùng trong sinh hoạt gia đình của
cả người da trắng lẫn người da đen. Đặc biệt, người Boer (thực dân Hà Lan) thì
hoàn toàn lẫn tránh việc Anh hóa khi họ di cư sâu vào nội địa theo hướng Bắc để
thành lập quốc gia tự do Orange và xứ Transvaal trong thập kỷ 1830. Đến thập kỷ
1870 thì vấn đề ngôn ngữ đã trở thành mục tiêu chủ yếu trong cuộc đấu tranh
chính trị của dân Afrikaner (người Hà Lan nói tiếng Afrikaans). Đã từ lâu không
còn có liên lạc gì với Hà Lan chính quốc, rất ít người còn nói hoặc viết đúng
được tiếng Hà Lan chính gốc nên họ chủ trương rằng tiếng Afrikaans phải là ngôn
ngữ tương lai của Nam Phi. Thế là họ bắt đầu công cuộc xuất bản bằng tiếng
Afrikaans. Năm 1902, các nước cộng hòa người Boer mất quyền dộc lập và trở
thành một bộ phận của đế quốc Anh. Nhưng người Boer chống lại việc Anh hóa các
lãnh thổ của họ và trong đạo luật thành lập Liên bang (Nam Phi), bên cạnh tiếng
Anh, tiếng Hà Lan đã được thừa nhận là ngôn ngữ chính thức trong mọi lĩnh vực.
Tuy nhiên, quy chế này của tiếng Hà Lan chẳng hề đem lại lợi ích gì cho người
Afrikaner vì họ đã quên bẵng nó đi rồi. Vì vậy mà đã diễn ra một cuộc vận động
rộng khắp đòi thừa nhận tiếng Afrikaans. Kết quả là đến năm 1926 thì thứ tiếng
pha tạp đó đã trở thành một ngôn ngữ chính thức của Nam Phi, thay thế cho tiếng
Hà Lan bên cạnh tiếng Anh.
Kiến
thức ngày nay, số 126, ngày 15-12-1993.
Thứ Bảy, 26 tháng 6, 2021
Trong “ăn như hạm” thì “hạm” là gì?
ĐỘC GIẢ: Trong “ăn như hạm” thì “hạm” là gì?
AN
CHI:
Hạm là con cọp. Đây là một biến thể ngữ âm của hàm 甝, một yếu tố Hán Việt có
nghĩa là con cọp trắng. Tiếng hàm được ghi bằng một hình thanh tự mà
nghĩa phù là hổ 虎(=
cọp) còn thanh phù là cam 甘(=
ngọt). Khang Hy tự điển, nơi bộ cam,
đã cho thiết âm của nó là “hổ cam thiết” và ghi nghĩa của nó là “hàm, bạch hổ”.
Vậy hàm là con cọp trắng còn hạm, biến
thể ngữ âm của nó, thì có nghĩa rộng là cọp
nói chung. Và ăn như hạm là ăn như cọp. Người ta thường dùng thành
ngữ này để chỉ hành động của bọn có chức có quyền chuyên ăn của dân mà ăn đến
bao nhiêu cũng chưa thấy đã thèm. Vợ của chúng, dựa hơi dựa thế của chồng để ăn
của dân gọi là hạm cái, còn thuộc hạ
của chúng dựa hơi dựa thế của quan trên để ăn của dân thì gọi là hạm non.
Kiến
thức ngày nay, số 125, ngày 1-12-1993
ĐỘC
GIẢ:
Tại sao báo chí trước đây gọi Gandhi là Mahatma và Nehru là pandit?
AN
CHI:
Mahatma là do tiếng Sanskrit mahãtman, có nghĩa gốc là linh hồn vĩ đại
(maha = lớn lao; atman = linh hồn). Từ này được dùng để tôn xưng các lãnh tụ
tinh thần. còn pandit là do tiếng
Sanskrit pandita có nghĩa là nhà hiền
triết, nhà thông thái. Từ này được dùng để tôn xưng các học giả danh tiếng.
Kiến
thức ngày nay, số 125, ngày 1-12-1993
Thứ Năm, 24 tháng 6, 2021
Theo tôi được biết thì câu “lang bạt kỳ hồ” là một câu trong Kinh Thi. Nó không có nghĩa là sống lang thàng rày đây mai đó. Tại sao người Việt Nam lại dùng nó theo nghĩa này?
ĐỘC GIẢ: Theo tôi được biết thì câu “lang bạt kỳ hồ” là một câu trong Kinh Thi. Nó không có nghĩa là sống lang thàng rày đây mai đó. Tại sao người Việt Nam lại dùng nó theo nghĩa này?
AN
CHI:
Đúng như ông đã nói, lang bạt kỳ hồ
là một câu trong Kinh Thi của Trung
Hoa. Lang là chó sói, bạt là giẫm đạp, kỳ là một đại từ thay thế cho danh từ lang còn hồ là cái yếm da dưới cổ của một số loại thú. Vậy lang bạt kỳ hồ là con chó sói giẫm lên
cái yếm của chính nó (nên không thể bước tới được). Hán Việt tân từ điển của Nguyễn Quốc Hùng giảng và chú như sau:
“Con chó sói giẫm lên cái phần da cổ của nó, lúng túng không biết làm sao. Chỉ
sự lúng túng khó xử. Ta lại hiểu là sống trôi dạt đấy đó (không rõ tại sao)”.
Điều mà quyển từ điển trên ghi “không rõ tại sao”
chính là điều mà ông hỏi. Chung quy cũng do từ nguyên dân gian mà ra. Không biết
được ý nghĩa đích thực của câu đang xét, người ta đã liên hệ các thành tố của
nó với những yếu tố mà mình đã biết: lang
với lang thang, bạt với phiêu bạt, hồ với giang hồ, chẳng hạn. Thế là thành
ra cái nghĩa “sống lang thang rày đây mai đó” như ông đã nêu. Chẳng những thế,
người ta còn lược bỏ hai tiếng kỳ hồ
mà nói gọn thành lang bạt để diễn đạt cái nghĩa trên đây. Quả
vậy, Từ điển tiếng Việt 1992 đã ghi
nhận: “lang bạt: sống nay đây mai đó ở những nơi xã lạ”. Nhiều quyển từ điển
khác cũng làm như thế vì hai tiếng lang bạt đã trở thành mọt đơn vị từ vựng
thông dụng trong tiếng Việt. Từ nguyên dân gian đã tạo ra lắm trường hợp oái
ăm. Xin nêu thêm một thí dụ quen thuộc. Có nhiều người, kể cả nhà văn và nhà
giáo, đã dùng yếu điểm thay cho nhược điểm. Họ nghĩa rằng yếu ở đây chính là yếu trong mạnh được yếu thua,
yếu thế, ốm yếu, vv. mà không hề ngờ rằng đó lại là yếu trong quan yếu, chủ yếu,
yếu lĩnh, yếu nhân, vv.. Thực ra yếu
điểm là điểm quan trọng, còn nhược điểm thì mới là chỗ yếu. Nếu hiểu theo lối
từ nguyên dân gian trên đây thì yếu nhân sẽ là người yếu. Nhưng thật ra đó là
nhân vật quan trọng, thậm chí còn VIP nữa ấy chứ!.
Kiến
thức ngày nay, số 125, ngày 1-12-1993
Thứ Ba, 22 tháng 6, 2021
Tại sao người Khmer gọi người Việt Nam là Duồn?
ĐỘC GIẢ: Tại sao người Khmer gọi người Việt Nam là Duồn?
AN
CHI:
Người Khmer gọi người Việt Nam là yuôn
còn người Chàm thì gọi là ywan. Nhiều
dân tộc ở Tây Nguyễn cũng chịu ảnh hưởng của tiếng Khmer hoặc tiếng Chàm mà gọi
người Việt bằng những tên tương tự. Yuôn
là dạng tiếng Khmer còn ywan là dạng
tiếng Chàm của tiếng Sanskrit yavana.
Trong bi ký cổ xưa bằng tiếng Sanskrit, người Chàm đã gọi người Việt bằng cái
tên yavana này. Vậy yavana là gì?. Dictionnaire sanskrit- français của N.Stchoupak, L. Nitti và L.
Renou (Paris, 1932) đã đối dịch từ này như sau: “étranger, barbare”. Một vài học
giải và nhà nghiên cứu vì hiểu nhầm barbare
là “dã man” nên đã vội vàng tránh né cái nguyên từ yavana đích thực mà đi tìm cho yuôn,
ywan một “nguyên từ” khác, đương
nhiên là hoàn toàn xa lạ. Sự thật thì barbare
ở đây đồng nghĩa với étranger. Cái
nghĩa đó đã được Nouveau Petit Larousse
en couleurs (édition 1969) cho như sau: “Etranger, qui appartient à une
autre civilisation” nghĩa là “dị chủng, thuộc về nền văn minh khác”.
Xét theo định nghĩa này, người Khmer và người Chàm là
đồng văn với nhau. Rõ ràng người Việt Nam là người “dị văn” với cả người Khmer
lẫn người Chàm. Vậy hoàn toàn chẳng có gì lạ nếu họ gọi chúng ta là yavana, Khmer hóa thành yuôn và Chàm hóa thành ywan, tức là những kẻ “dị văn”.
Kiến
thức ngày nay, số 124, ngày 20-11-1993
Chủ Nhật, 20 tháng 6, 2021
Tại sau trước đây người Việt miền Nam gọi người Khmer là đàn thổ?
ĐỘC GIẢ: Tại sau trước đây người Việt miền Nam gọi người Khmer là đàn thổ?
AN
CHI:
Không phải “đàn thổ”, mà là Đàng Thổ. Nói Đàng Thổ là để phân biệt với Đàng
Trong cũng như nói Đàng Trong là để phân biệt với Đàng Ngoài và Đàng Trên (xưa
gọi là Đàng Tlên). Đàng Trên chính là vùng đất mà trong những trang ghi chép của
mình. A. de. Rhodes đã gọi là vương quốc Cao Bằng, tức là vùng cát cứ của con
cháu nhà Mạc từ năm 1592 đến 1677. Còn Đàng Thổ là phần đất của thổ dân, tức
dân bản thổ đã sinh sống tại đó từ xưa. Thoạt đầu là tên vùng địa lý, về sau
hai tiếng Đàng Thổ mới được người Nam Bộ dung trong khẩu ngữ để chỉ người
Khmer.
Kiến
thức ngày nay, số 124, ngày 20-11-1993
Thứ Sáu, 18 tháng 6, 2021
Một bài trên Kiến thức ngày nay, số 104, trang 47-51, có dùng từ “mặc khải”. Từ này không thấy có trong từ điển của cụ Đào Duy Anh và của ông Nguyễn Văn Khôn. Từ “mặc khải” có liên quan gì đến thuyết linh ứng bên đạo Thiên Chúa không?
ĐỘC GIẢ: Một bài trên Kiến thức ngày nay, số 104, trang 47-51, có dùng từ “mặc khải”. Từ này không thấy có trong từ điển của cụ Đào Duy Anh và của ông Nguyễn Văn Khôn. Từ “mặc khải” có liên quan gì đến thuyết linh ứng bên đạo Thiên Chúa không?
AN
CHI:
Mặc khải là một từ Hán Việt mà người
ta đã dùng để dịch danh từ Révélation của tiếng Pháp (tiếng Anh: Revelation) với
tính cách là một thuật ngữ tôn giáo. Danh từ thần học và triết học của
Ban giáo sư Đại chủng viện Bùi Chu do Trí-đức-thư-xã
(Hà Nội) xuất bản năm 1952 đã ghi như sau:
“Révélation:
Mặc khải, Révélation divine: Mặc-khải
Thiên-Chúa. Révélation formelle: Mặc-khải mô-thức. Révélation primitive: Mặc-khải sơ-khai
(…). Đồng nghĩa với mặc khải là mặc thị mà người Nhật đọc thành mokuji. Họ dùng từ này để dịch tên sách Apocalypse (là sách cuối cùng trong Kinh
Thánh, phần Tân ước) thành Mokuji roku
(Mặc thị lục). Kinh Thánh bản tiếng Việt của Thánh-Kinh Hội tại Việt Nam, in
năm 1975 cũng dùng từ này, chẳng hạn “Sự mặc-thị của Đức Chúa Jêsus-Christ”
(sách khải-huyền,1: 1). Nhưng bản tiếng việt của Hội Ghi-đê-ôn Quốc-tế năm 1965
thì lại dùng từ khải thị, chẳng hạn “Sự khải-thị của Jésus-Christ” (Sách Khải-thị
của Giăng, 1: 1). Danh từ thần học và triết học dã dịch Révélation thành mặc khải
và dịch Apocalypse thành Khải huyền thư. Thực ra, nghĩa của apocalypse cũng là
Révélation vì đó là dạng tiếng Pháp – và cả tiếng Anh – của tiếng Hy Lạp
apokalupsis, có nghĩa là… Révélation, tức mặc thị, mặc khải, khải thị hoặc khải
huyền. Đây đều là những từ đồng nghĩa. Từ điển của Đào Duy Anh và của Nguyễn
Văn Khôn không ghi nhận từ mặc khải một phần vì đây không phải là một từ thông
dụng, một phần vì đó cũng không phải là từ điển cỡ lớn. Đầy đủ hơn nhiều như Từ hải cũng chỉ ghi nhận có khải thị mà không có mặc khải, mặc thị hoặc khải huyền.
Trong bài ông đã nêu, tác giả chỉ dùng từ mặc khải theo nghĩa thông thường là bộc
lộ, biểu lộ…mà thôi.
Kiến
thức ngày nay, số 141, ngày 15-6-1994
Thứ Hai, 14 tháng 6, 2021
Xin cho biết chữ Nho và chữ Hán có khác nhau không? Thứ chữ này ra đời và chấm dứt từ lúc nào?
ĐỘC GIẢ: Xin cho biết chữ Nho và chữ Hán có khác nhau không? Thứ chữ này ra đời và chấm dứt từ lúc nào?
AN
CHI:
Chữ Hán và Chữ Nho là hai tên gọi khác nhau của cùng một thứ chữ. Ngày xưa
người ta gọi đó là chữ Nho vì nó được
dùng để chuyển tải nội dung của Nho giáo
và Nho học. Đó là thứ chữ mà nhà Nho
phải nắm vững để có thể thông hiểu sách vở và đạo lý của thánh hiền. Khi người
Việt Nam thoát khỏi ách đô hộ ngàn năm của phong kiến phương Bắc để xây dựng quốc
gia độc lập, đặc biệt là từ nhà Lý (1010-1225) trở đi thì Nho giáo và Nho học
cũng trở thành chính thống tại quốc gia Đại Việt. Chữ Nho do đó cũng trở thành
“quốc gia văn tự” của người Việt Nam. Vì vậy mà người nước ta còn gọi nó là “chữ
ta”. Thứ chữ này đã tồn tại và đã được sử dụng ở Việt Nam trong vòng 900 năm (nếu
chỉ kể từ nhà Lý) cho đến khi nước ta bị Pháp đô hộ và nền Nho học bị bãi bỏ.
Còn trên thực tế thì người Việt Nam đã biết đến chữ Nho từ rất sớm, ít nhất
cũng là từ đời Sĩ Nhiếp. Ngày nay người ta không gọi thứ chữ đang xét là chữ
Nho nữa mà gọi đó là chữ Hán, vì đó mới là cách gọi chính xác và hợp lý. Đây
cũng là cách gọi của chính người Trung Hoa: họ tự nhận là Hán tộc nên chữ của họ là Hán
tự (chữ Hán), tiếng của họ là Hán ngữ,
và văn của họ là Hán văn. Theo truyền
thuyết thì Thương Hiệt là người đã sáng chế ra chữ Hán nhưng điều này không có
căn cứ thực tế. Chữ Hán chắc chắn không do một cá nhân sáng chế ra mà là kết quả
của một sự thừa kế có cải tiến của nhiều người, thậm chí của nhiều thế hệ cho đến
một thời điểm mà nó được xem là đã định hình. Đó là vào đời nhà Thương và thứ
chữ được xem như đã định hình đó là giáp cốt văn (văn ở đây có nghĩa là chữ) tức
là thứ chữ khắc trên yếm rùa và xương thú. Thứ chữ này đã được dùng để ghi chép
những lời nói toán gọi là bốc từ. Nhờ những lời bốc từ này mà người ta có thể
biết rõ xã hội Trung Hoa đời nhà Thương về nhiều phương diện. Đặc biệt bảng đế
hệ đời Thương xác lập được qua những lời bốc từ nói chung khá phù hợp với truyền
thuyết. Chính vì thế mà người ta mới có căn cứ cụ thể và chắc chắn để khẳng định
rằng nhà Thương là một giai đoạn có thật trong lịch sử của Trung Hoa. Rất nhiều
chữ giáp cốt là những chữ tượng hình đích thực, nhưng trãi qua nhiều thay đổi,
ngày nay mỗi chữ Hán đã trở thành một khối vuông (phương khối tự) riêng biệt cấu
tạo bằng một số nét (như chấm, phẩy, mác, vv.) nhất định.
Tóm lại, thời điểm ra dời của chữ Hán, tức chữ Nho là
vào đời nhà Thương, còn thời điểm chấm dứt của nó thì chưa thể biết được vì đến
nay vẫn còn được dùng tại Công hòa Nhân dân Trung Hoa, tại Đài Loan, và trong
các cộng đồng người Hoa ở nước ngoài. Chẳng những như thế, chữ Hán ngày nay vẫn
còn tiếp tục được nhiều người nước ngoài trau dồi và nghiên cứu.
Kiến
thức ngày nay, số 141, ngày 15-6-1994
Thứ Năm, 10 tháng 6, 2021
Tại sao người Pháp gọi Đài Loan là Formose và người Anh là Formosa?
ĐỘC GIẢ: Tại sao người Pháp gọi Đài Loan là Formose và người Anh là Formosa?
AN
CHI:
Những người châu Âu đầu tiên phát hiện ra đảo Đài Loan là người Bồ Đào Nha. Họ
đã gọi nó là hòn đảo xinh đẹp, tiếng Bồ Đào Nha là ilha Formosa (ilha: đảo – danh từ giống cái; Formosa: xinh đẹp – giống
cái của tính từ formoso); do đó mà “chết tên”. Người Pháp đã theo dó mà gọi Formose và người Anh là Formosa. Tuy nhiên, ngày nay họ cũng đã
theo cách gọi của người Trung hoa mà gọi nó là Taiwan.
Kiến
thức ngày nay, số 141, ngày 15-6-1994
Chủ Nhật, 6 tháng 6, 2021
Nói “mút chỉ cà tha” thì ai cũng hiểu. Nhưng “cà tha” là gì và hai tiếng này bắt nguồn từ đâu? Có phải là nói trại âm của hai tiếng “cà sa”?
ĐỘC GIẢ: Nói “mút chỉ cà tha” thì ai cũng hiểu. Nhưng “cà tha” là gì và hai tiếng này bắt nguồn từ đâu? Có phải là nói trại âm của hai tiếng “cà sa”?
AN
CHI:
Hai tiếng cà-tha đã được Lê Ngọc Trụ
giảng là “xâu chuỗi hột to, dài, mang ở cổ, có tác dụng là bùa trừ ếm tà ma quỉ-quái”.
Tác giả cho thí dụ: “Thầy pháp đeo dây cà-tha”(1). Tuy nhiên dân
gian vẫn còn có lối hiểu bình thường là cái bùa (chứ không nhất thiết là xâu
chuỗi). Chẳng hạn, khi nghe nói “vô cà tha rồi đó” thì có thể hiểu là “đã có yểm
bùa rồi đó”. Dân Nam Bộ đã mượn từ cà-tha
ở tiếng Khmer katha mà Dictionnaire cambodgien- français của J.
B. Bernard (Hong Kong, 1902) giảng là “amullete” (bùa). Vậy cà tha là bùa.
Còn cà sa,
mà dạng đầy đủ là cà sa duệ, là âm
Hán-Việt của những chữ Hán mà người Trung Hoa đã dùng để phiên âm tiếng
Sanskrit kãsãya, nghĩa gốc là vải hoặc
y phục nhuộm màu đỏ sẫm. Trong tiếng Pali thì kãsãya lại có nghĩa là nhuộm màu da cam, là áo màu vàng. Danh từ cà sa đã được Phật học từ điển của Đoàn Trung Còn giảng như sau: “Ấy là bộ áo nhà
sư đạo Phật, hiệp lại là ba cái: Tăng-già-lê, cái áo tràng; uất-đa-la-tăng, cái
giữa; an-đà-hội, cái áo trong, áo lót”. Nghĩa thông dụng của cà sa hiện nay là
“áo mặc ngoài của nhà sư (rất dài và rộng)” (Từ điển tiếng Việt 1992).
--------------------------------------
1.
Tầm
nguyên từ điển Việt Nam, Tp.HCM, 1993, TR. 497.
Kiến
thức ngày nay, số 140, ngày 1-6-1994
Thứ Tư, 2 tháng 6, 2021
Chữ “t” của từ “thành phố” trong địa danh Hồ Chí Minh nên viết như thế nào.
ĐỘC GIẢ: Kiến thức ngày nay, số 130, Chuyện Đông chuyện tây, trang 57, có trả lời về việc chữ “t” của từ “thành phố” trong địa danh Hồ Chí Minh nên viết như thế nào. Xin trao đổi với An Chi như sau: Việc nhân danh Hồ Chí Minh được đặt tên cho một thành phố tuy là một tiền lệ trong tiếng Việt nhưng trên thế giới người ta đã làm từ rất lâu: nhân danh Whashington (sic) đã được dùng đặt tên cho thủ đô Hoa Kỳ, nhân danh Lê-nin đã được dùng đặt tên cho một thành phố của Liên Xô, thành phố Lê-nin, vv..
Vì đã được dùng đặt tên cho một thành phố nên Hồ Chí Minh đã trở thành địa danh
chứ không còn là nhân danh nữa. Vì vậy, người ta vẫn có thể nói “đi từ Hồ Chí
Minh đến Cần Thơ” nhưng người ta không nói không phải là không nói được mà vì
những lý do sau: 1. Để phân biệt nhân danh Hồ Chí Minh với địa danh Hồ Chí Minh
(bởi trước đó người ta chỉ quen với Hồ Chí Minh là nhân danh). Sự phân biệt này
chỉ tồn tại một hời gian nhất định. Ngày nay, người ta không cần phải nói “đi
thủ đô Whasington (sic)” mà chỉ cần nói “đi Whasington (sic)’ bởi ai cũng biết
Whasington (sic) là thủ đô của nước Mỹ rồi. 2. Để cụ thể hóa địa danh Hồ Chí
Minh là gì (tỉnh, thành phố, quận, huyện, hay là một cơ quan, một con đường…).
Vậy cụm từ “thành phố Hồ Chí Minh” vẫn bao gồm hai thành phần riêng lẻ: từ “thành
phố” (danh từ chung chỉ đơn vị hành chính) và từ “Hồ Chí Minh” (nhân danh đã trở
thành địa danh). Do đó, thiển nghĩ chữ “t” của từ thành phố Hồ Chí Minh nên viết
thường là hay hơn.
AN
CHI:
Trong phần trả lời trên Kiến thức ngày
nay, số 130, chúng tôi chỉ hạn chế vấn đề trong phạm vi của tiếng Việt và
chữ Việt. Nay bạn đã dẫn đến chuyện thế giới thì xin hầu chuyện thế giới với bạn.
Bạn đã khẳng định rằng “ai cũng biết Washington (chúng tôi lạm phép bỏ chữ h của
bạn sau chữ W- AC) là thủ đô nước Mỹ”. Vậy nếu có người nói rằng Washington là
một tiểu bang ở Tây Bắc của nước Mỹ, trên bờ Thái Bình Dương, mà thủ phủ là
Olympia thì bạn sẽ trả lời thế nào? Bạn viết: “Người ta không cần nói: đi thủ
đô Washington mà chỉ cần nói: đi Washington”Nhưng vì ở Mỹ có một tiểu bang cũng
mang tên Washington nên về nguyên tắc thì danh từ “thủ đô” vẫn là cần thiết vì
nó giúp cho người ta phân biệt Washington thủ đô với Washington tiểu bang. Còn
trong thực tế thì người Mỹ đã có cách riêng của họ: khi cần phận biệt với tiểu
bang Washington, họ nói Washington D.C để chỉ thủ đô của nước mình.
Bạn lại nhắc thành phố mang tên Lê-nin, ngụ ý rằng nhân danh Lê-nin đã trở
thành địa danh Lê-nin. Nhưng trong tiếng Nga, Lenin chưa bao giờ là địa danh
dùng để chỉ thành phố mà trước kia là Saint-Petersbourg. Thành phố Lê-nin mà bạn
nói, tiếng Nga Leningrad. Đây mới địch thực là một địa danh. Nó gồm có hai
thành tố: nhân danh Lênin + danh từ chung grad (một từ cổ tương ứng với danh từ
gorod trong tiếng Nga hiện đại), có nghĩa là thành phố. Cả cái khối ngữ âm – từ
vựng Leningrad chặt chẽ đó mới là địa danh. Từ địa danh này, người ta mới cấu tạo
nên những từ phái sinh như Leningradets (người Leningrad) và Leningradskiy (thuộc
về Leningrad). Trong những từ phái sinh này, danh từ -grad- (= thành phố) đã nằm
lọt tõm vào giữa nhân danh Lenin và hậu tố -ets hoặc –sk (iy). Đây là một bằng
chứng về sự phụ thuộc của grad vào địa danh Leningrad: nó không phải là một
“thành phần riêng lẻ”. Và trong ba từ Leningrad, Leningradets, Leningradskiy,
thành tố Lenin vẫn cứ luôn luôn là một nhân danh. Vậy không thể nói “đi Lenin”
mà phải nói “đi Leningrad”. Nếu lý thuyết của bạn đúng (Lenin là địa danh) thì
người ta đã nói Leninets để chỉ người Leningrad và Leninskiy để diễn đạt cái
ngĩa “thuộc về Leningrad” rồi. Nhưng Leninets lại là người theo chủ nghĩa
Lê-nin còn leninskiy lại là “của Lê-nin”.
Trở lên là tiếng Nga. Bây giờ xin sang tiếng Anh. Trong ngôn ngữ này, chúng tôi
muốn giới thiệu hai địa danh: Georgetown, hải cảng và thủ đô của Guyana và
George Town, hải cảng của Malaysia. Nếu muốn đến một trong hai nơi đó thì phải
nói “đi Georgetown (hoặc George Town)” chứ không ai nói “đi George” theo lý thiết
của bạn được. Sở dĩ không nói như thế được là vì George trước sau vẫn chỉ là một
nhân danh. Chỉ có Georgetown và George Town mới là địa danh và hai địa danh này
đều bao gồm hai thành tố: nhân danh George + danh từ chung town (thành phố).
Cuối cũng xin nói sang tiếng Pháp với hai địa danh đáng chú ý là Brazzaville và
Léopoldville. Brazzaville là thành phố mang tên của Pierre Savorgnan de Brazza,
nhà thám hiểm người Pháp gốc Ý đã tìm ra miền đất về sau là Congo thuộc pháp,
còn Léopoldville, nay là Kinshasa, là thành phố mang tên một vị quốc vương của
nước Bỉ là Léopold đệ nhị. Hai địa danh trên đều bao gồm mỗi từ một nhân danh
(Brazza và Léopold) và danh từ chung ville (thành phố). Hai nhân danh Brazza và
Léopold tự chúng chưa bao giờ trở thành địa danh. Chỉ khi được ghép với ville,
chúng mới góp phần tạo ra hai địa danh Brazzaville và Léopoldville mà thôi.
Trong tiếng Nga, tiếng Anh, tiếng Pháp, các danh từ chung grad, town, ville đều
được viết liền với nhân danh đứng trước chúng. Điều này chứng tỏ rằng chúng đã
trở nên những thành tố của địa danh chứ không phải là “thành phần riêng lẻ” như
bạn đã khẳng định trong lý thuyết của mình. Nếu người ta không viết liền thì lại
ta lại viết hoa chữ cái đầu tiên của từ có nghĩa là thành phố, chẳng hạn George
Town (với chữ t hoa – T). Cùng một nguyên tắc này. Người Pháp đã dịch địa danh
Thành phố Hồ Chí Minh thành Ho Chi Minh – Ville (Xem, chẳng hạn Petit Larousse Illustré 1992) và viết
Ville với chữ v viết hoa. Danh từ chung Ville trong trường hợp này rõ ràng đã
trở nên một thành tố của địa danh mà sự viết hoa chữ cái đầu tiên của nó là một
dấu hiệu không thể nào chối cãi được. Gạch nối giữa Hồ Chí Minh và Ville cũng
chứng tỏ rằng Ville là một thành tố của địa danh Hồ Chí Minh – Ville. Trong tiếng
Pháp lại còn có trường hợp danh từ chung đứng trước chứ không phải sau danh
nhân nhưng nguyên tắc chính tả vẫn là một. Thí dụ: Bourg- Léopold là một địa
danh tiếng Pháp, dịch từ tiếng Hà Lan Leopoldsburg để chỉ một địa phương của nước
Bỉ (bourg là điểm cư dân tập trung nhất của một vùng nông thôn, thường tương
đương với một xã). Chữ B của bourg đã được viết hoa, giữa Bourg và Léopold có gạch
nối.
Từ trên đây suy ra, Thành phố Hồ Chí Minh rõ ràng là một địa danh năm âm tiết gồm
có hai thành tố: danh từ chung Thành phố (mà chưc t phải được viết hoa) + nhân
danh Hồ Chí Minh. Như chúng tôi đã nói kỳ trước, đây là một trường hợp chưa có
tiền lệ trong tiếng Việt: lần đầu tiên người ta đã dùng tên người mà chính thức
đặt tên cho một thành phố. Kỳ này xin nói rõ thêm: đây là cách đặt tên cùng kiểu
với các mẫu của tiếng nước ngoài như Brazzaville của tiếng Pháp, Georgetown của
tiếng Anh hoặc Leningrad của tiếng Nga, trong đó có một thành tố là nhân danh
còn thành tố kia là một danh từ có nghĩa là thành phố. Cả hai thành tố gắn chặt
với nhau mới tạ thành địa danh.
Kiểu cấu trúc địa danh trên đây hoàn toàn khác với kiểu cấu tạo của địa danh
Washington. Washington mới đích thực là một địa danh trực tiếp bắt nguồn từ
nhân danh. Ở đây người ta đã lấy thẳng nhân danh làm địa danh. Tên của
Christophe Colomb cũng đã được dùng theo kiểu này để gọi thủ phủ của bang Ohio
(Mỹ). Đó là Columbus (hình thái tiếng Anh của Colomb). Columbus cũng còn là tên
một thành phố khác nữa ở bang Georgia (Mỹ). Đối với địa danh Washington và
Columbus, nếu bạn muốn thêm “town” vào mà gọi là “Washingtontown: và
“Columbustown” thì cũng chẳng ai cho. Nhưng đối với địa danh Brazzaville, Georgetown
và Leningrad nếu bạn có muốn bỏ grad, town, ville thì cũng chẳng ai chịu. Cũng
y hệt như thế đối với địa danh Thành phố Hồ Chí Minh trong đó thành phố là một
thành tố không thể tách rời được.
Vậy vấn đề không phải là ở chỗ người ta đã quen hoặc chưa quen với “địa danh Hồ
Chí Minh”, như bạn đã nói mà là ở chỗ người ta đã chọn cách đặt địa danh như thế
nào: lấy thẳng nhân danh làm địa danh (như Washington, Columbus) hay ghép nhân
danh với danh từ chung thành phố (kiểu như Brazzaville, Georgetown và Leningrad).
Vấn đề cũng chẳng phải là ở chỗ người ta muốn “cụ thể hóa địa danh Hồ Chí Minh”
(tỉnh, thành phố hay một con đường,vv.) như bạn đã nói vì ngay cả khi ngôn cảnh
hoàn toàn rõ ràng, không cho phép xảy ra một sự hiểu lầm nào, thì người ta vẫn
cứ luôn luôn nói Thành phố Hồ Chí Minh mà không bao giờ nói Hồ Chí Minh trống
trơn. Bằng chứng là trên tất cả các văn thư của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ
Chí Minh, khi đề ngày, người ta vẫn ghi đầy đủ 5 âm tiết Thành phố Hồ Chí Minh
mặc dù nếu chỉ ghi 3 âm tiết Hồ Chí Minh thì người đọc vẫn có thể biết được rằng
những văn thư đó đã được thảo ra tại Thành phố Hồ Chí Minh chứ không phải tại bất
cứ nơi nào khác.
Cuối cũng bạn còn phản bác chúng tôi bẳng cách lập luận rằng “Thành phố Hồ Chí
Minh là một địa danh năm âm tiết thì chẳng lẽ gọi địa danh Thành phố Hồ Chí
Minh là thành phố Thành phố Hồ Chí Minh”, “chẳng lẽ người nước ngoài mà cụ thể
mà người Anh khi gọi địa danh trên cũng phải gọi là Ho Chi Minh City City?
Thưa: về nguyên tắc thì hoàn toàn có thể nói như thế được nhưng trong thực tế
thì dù là người Việt hay người Anh chẳng có ai dại dột mà tạo ra một kiểu
redundancy (tạm dịch là lời rườm) ngờ nghệch đến thế. Tuy nhiên, cách nói trùng
lập đó sẽ rất ý nhị nếu nó được dùng đúng chỗ, chẳng hạn như trong trường hợp
sau đây:
Ở Ontario (Canada), có một thành phố tên là Belleville, có nghĩa là thành phố
xinh đẹp. Để chơi chữ, người ta hoàn toàn có quyền nói: La ville de Belleville
est une belle ville (Thành phố Thành phố xinh đẹp là một thành phố xinh đẹp).
Cấu trúc ville de Belleville (thành phố Thành phố xinh đẹp) không có gì trái
ngược với tập quán ngôn ngữ của người Pháp. Nó lại càng không sai ngữ pháp. Và
nhất là cũng chẳng vô duyên chút nào!
Kiến
thức ngày nay, số 139, ngày 15-5-1994
Thứ Bảy, 29 tháng 5, 2021
Tại sao trước đây Thái Lan được gọi là Xiêm hoặc Xiêm La? Tại sao lại đổi làm Thái Lan? Các tên đó có ý nghĩa gì?
ĐỘC GIẢ: Tại sao trước đây Thái Lan được gọi là Xiêm hoặc Xiêm La? Tại sao lại đổi làm Thái Lan? Các tên đó có ý nghĩa gì?
AN
CHI:
Xiêm không phải là tên tự gọi của người
Thái Lan (trở xuống xin gọi là Xiêm).
Đó là tên mà người Khmer và người Chàm đã dùng để gọi họ. Danh xưng Syãm (ghi theo Coedès) đã xuất hiện trên
văn bia của người Chàm từ thế kỷ XI, còn hình ảnh của họ (được khẳng định là
người Syãm) cũng đã hiện diện trên phù điêu của di tích văn hóa Angkor ở
Campuchia từ thế kỷ XII(1). Người Việt Nam trước kia cũng theo cách
gọi của người Khmer và người Chàm mà gọi họ là Xiêm. Người Trung Hoa cũng phiên âm tên gọi này thành Tiêm (âm Bắc Kinh: Xiàn), rồi ghép với
tên nước La Hộc thành Tiêm La (người Việt Nam gọi là Xiêm La).
Danh xưng Tiêm La đã được Từ hải giảng như sau: “Tên nước, tương
truyền xưa phân làm hai nước Tiêm và La Hộc, sau hợp nhất làm một, do đó có tên
(Quốc danh, tương truyền cổ phân vi Tiêm dữ La Hộc nhị quốc, hậu hợp vi nhất, cố
danh). La Hộc đã được khẳng định là
phiên âm từ địa danh Lvo, nay là Lopburi của Thái Lan, ở hạ lưu sông Mênam(2).
Người Pháp cũng phiên âm tiên gọi trên đây thành Siam. Người Anh theo cách phiên âm của người Pháp mà ghi là Siam. Nhưng bộ Enciclopedia Italian (Bách khoa thư Italia) lại giải thích rằng tiếng
Pháp và tiếng Anh Siam bắt nguồn từ
tiếng Xiêm “Saiam”, “Sayam”, rằng đây là do người Xiêm đọc trại âm tiếng Miến
Điện Shan, vốn là tộc danh chung cho các cư dân láng giềng phía Đông của Miến
Điện(3). Lời giải thích của bộ bách khoa thư trên đây không đúng với
sự thật lịch sử. Người Xiêm vốn vẫn tự gọi là Thay và gọi người Shan là
Nghiệu. Còn Sayam (thực ra, trong tiếng
Xiêm, âm tiết thứ hai của từ này có thanh điệu đi lên) chỉ là danh xưng mà mãi
đến thời cận đại họ mới phiên âm từ tiếng Anh Siam. Người Xiêm vẫn tự gọi
là Thay và gọi tên nước mình là Mương Thay (cách gọi thông tục) hoặc Prathêt Thay (cách gọi tao nhã), nghĩa
là nước Thái. Đến triều vua Rama IV (1851-1868) mới chính thức lấy tên nước là
Sayam, tức Xiêm. Rama IV là một vị vua có đầu óc canh tân, chủ trương học tập
phương Tây và bang giao với các nước phương Tây. Ông đã lấy tên nước là Xiêm để
đánh dấu cho công cuộc canh tân của mình. Tên Xiêm được dùng cho đến năm 1939;
khi tướng Phibul Songgram lên làm thủ tướng, nó được thay thế bằng tên Thái.
Năm 1945, lại đổi thành Xiêm rồi đến 1948 thì lại được gọi là Thái cho đến nay.
Người Anh đã phiên âm Thay thành Thai và dịch mương hoặc prathêt thành land mà
gọi nước Thái là Thailand. Tên này của tiếng Anh đã được phiên âm sang tiếng
Pháp thành Thailande và sang tiếng việt thành Thái Lan. Có ý kiến cho rằng tên
Sayam, tức Xiêm có nghĩa là người ở giáp biên giới. Còn tên Thay tức Thái, thì
một số người đã giảng là “tự do”. Tuy trong tiếng Xiêm, có một từ thay có nghĩa
là tự do nhưng tộc danh Thay lại có nghĩa là người. Trên thế giới, có nhiều dân
tộc đã lấy từ có nghĩa là người trong ngôn ngữ của mình để làm tên dân tộc. Điều
nay đã được khẳng định. Cũng vậy với người Xiêm, mà tộc danh Thay tướng ứng với Tày của người Tày (trước đây gọi là Thổ), với Táy của người Thái Tây Bắc
Việt Nam, với Đioi của người Đioi ở
Quý Châu (Trung Quốc), với Đày của
người Lê ở đảo Hải Nam, vv.. Thay, Tày,
Táy, Đioi, Đày là những từ cùng gốc
và nghĩa gốc của chúng là người. Theo chúng tôi, cái gốc chung của những từ này
đã được ghi nhận trong từ Đại của tiếng
Hán mà chữ viết là 大. Đây là một chữ tượng hình. Tự hình của
nó trong giáp cốt văn đời Thương là một hình người nhìn chính diện, giơ hai tay
và giạng hai chân ra hai bên. Văn tự học Trung Hoa cũng khẳng định nghĩa gốc của
Đại là người. Nếu điều chúng tôi nêu là đúng thì người Trung Hoa đã biết đến
các tộc người Thái muộn nhất cũng là từ dời nhà Thương. Hơn thế nữa, nếu điều
dó đúng thì nó sẽ là một cứ liệu ngôn ngữ, bên cạnh nhiều cứ liệu ngôn ngữ khác
mà chúng tôi không thể nêu ra ở đây, buộc người ta phải nghĩ đến một nguồn gốc
chung cho tiếng Hán và các ngôn ngữ Thái đã từng được một số người nói đến từ
lâu.
----------------------------------
1.
Xem, chẳng hạn: P. Fistié, La Thailande, Paris, 1971, p, 10, hoặc G. Coedès,
Les peoples de la peninsude indochinoise, Paris, 1962, p, 99.
2.
Xem G. Coedès, sđd, tr. 104.
3.
Theo E. Partridge, Origins, London, 1961, p, 620- Miến Điện nay gọi là Myanmar.
Kiến
thức ngày nay, số 136, ngày 15-4-1994
Thứ Ba, 25 tháng 5, 2021
Tại sao không gọi cái “báo giờ” hay “chỉ giờ” mà gọi cái “đồng hồ”? Tại sao không nói “làm một giờ”, “làm hai giờ” mà nói “làm một tiếng”, “làm hai tiếng”?
ĐỘC
GIẢ:
Tại sao không gọi cái “báo giờ” hay “chỉ giờ” mà gọi cái “đồng hồ”? Tại sao
không nói “làm một giờ”, “làm hai giờ” mà nói “làm một tiếng”, “làm hai tiếng”?
AN
CHI:Ở
Trung Hoa ngày xưa người ta làm dụng cụ chỉ giờ “chạy” bằng nước. Về đại thể,
nó gồm hai phần. Phần trên, chứa nước, có lỗ cho nước chảy xuống. Ở phần dưới,
có cắm một cái cọc chia thành trăm vạch (Mặt đáy được coi là một vạch, coi như
tất cả 101 vạch). Khoảng cách giữa 2 vạch chỉ một khoảng thời gian bằng 1/100
thời gian của một ngày-đêm, tức 14 phút 24 giây. Người ta cứ theo nước đã ngập
được bao nhiêu vạch mà tính được bao nhiêu lần 14’24” đã trôi qua. Vì thứ dụng
cụ đo giờ đó hoạt động theo đặc điểm đã nói trên, nên người ta gọi nó là lậu hồ
(= hồ nhỏ giọt) và vì lậu hồ thường làm bằng đồng nên người ta cũng gọi nó đồng
hồ. Vậy đồng hồ là dụng cụ đo giờ, chỉ giờ của thời xưa.
Khi máy chỉ giờ của phương Tây du nhập vào Việt Nam
thì người nước ta cũng gọi nó là đồng hồ, mặc dù đó không phải là cái hồ bằng đồng.
Đồng hồ phương Tây lại thường là đồng hồ gõ kiểng (= đánh chuông), cứ mấy giờ
thì gõ mấy tiếng (không kể phần nhạc mở đầu). Vậy tiếng kiểng đồng hồ là dấu hiệu
chỉ thời gian. Một tiếng kiểng đổ là một lần một giờ đã trôi qua. Tiếng kiểng
(hoặc tiếng chuông) đồng hồ, nói gọn thành tiếng đồng hồ, gọn hơn nữa là tiếng,
do đó đã được dùng theo phép hoán dụ (lấy dấu hiệu của hiện tượng để chỉ hiện
tượng) để chỉ khoảng thời gian đã nói. Vậy làm một tiếng, làm hai tiếng cũng có
nghĩa là làm một giờ, làm hai giờ đó thôi.
Nhân tiện, xin nói thêm rằng tiếng khắc (= 15 phút)
cũng là hệ quả của một sự chuyển nghĩa theo phép hoán dụ. Những vạch trên cái cọc
cắm ở phần dưới cái lậu hồ, tiếng Hán gọi là khắc. Khi nước ngập thêm một khắc
là lại thêm một lần thời gian 14’24” trôi qua như đã nói. Do đó mà người ta
dùng khắc theo phép hoán dụ để chỉ khoảng thời gian này. Do điều chỉnh theo đồng
hồ Tây mà ngày nay 1 khắc mới bằng 15 phút. Vì vậy, tính theo đồng hồ Tàu thời
xưa thì một ngày đêm có 100 khắc, nhưng tính theo đồng hồ Tây ngày nay thì chỉ
có 96 khắc mà thôi.
Kiến
thức ngày nay, số 136, ngày 15-4-1994
Thứ Sáu, 21 tháng 5, 2021
Chẳng lẽ tiếng Việt không có từ nào để thay thế cho từ “lô-gích”? Ta có 4000 năm văn hiến mà vẫn bị “hổng” khi đụng lô-gích nên đành “bỏ trống” hay sao? Vậy tiếng của ta để làm gì?
ĐỘC
GIẢ:
Chẳng lẽ tiếng Việt không có từ nào để thay thế cho từ “lô-gích”? Ta có 4000
năm văn hiến mà vẫn bị “hổng” khi đụng lô-gích nên đành “bỏ trống” hay sao? Vậy
tiếng của ta để làm gì?
AN
CHI:
Ông cho biết mình ở Sài Gòn 40 năm nhưng trước năm 1975 chưa từng nghe người Việt
Nam nào nói tiếng Việt mà lại xen vào hai tiếng lô-gích.
Có lẽ ông đã
nói không quá đáng. Lô-gích – mà nay
nhiều người, kể cả các tác giả của Từ điển
tiếng Việt 1992, đã viết thành logic,
y hệt tiếng Anh – trước đây gọi là luận
lý (học). Hai tiếng lô-gích bắt đầu
được dùng càng ngày càng nhiều ở miền Nam mặc dù đối với nó một số người vẫn
còn “dị ứng”. Xét cho cùng, nếu lô-gích
là Tây thì luận lý lại là Tàu (đây là
một từ Việt gốc Hán, vẫn quen gọi là Hán Việt). Chẳng có cái nào là ta cả. Và
chẳng cứ gì ta có “4000 năm” mà vẫn phải mượn của Tây, mà cả Tàu cũng chẳng hơn
gì ta. Nếu tính từ đời Phục Hy thì họ đã ngót nghét 5.000 năm. Nhưng họ vẫn phải
mượn của Tây ngay cả trong trường hợp của mấy tiếng lô-gích. Để diễn đạt khái niệm này, trước kia họ đã có các từ ngữ danh học, biện học, luận lý học, nhưng họ
vẫn phiên âm tiếng Anh logic thành luó jí
(âm Bắc Kinh) và ghi bằng hai chữ Hán đọc theo âm Hán Việt thành la tập. Ngày nay, khắp nước Cộng hòa
Nhân dân Trung Hoa, không ai dùng danh học, biện học hoặc luận lý học mà chỉ
nói la tập (học) (Ở miền Bắc hồi nữa
sau thập kỷ 50, tác giả Trần Văn Giàu cũng đã dùng la tập học để chỉ môn logique).
Nhưng xin nói rõ rằng đây cũng chẳng phải là “đặc sản” của nước Cộng hòa Nhân
dân Trung Hoa vì nó thành lập từ 1949 mà mấy chữ la tập thì đã có mặt trong Từ
nguyên là một bộ từ điển ra đời từ năm 1915. Ngay đến tiếng Anh logic, mà hình thái trung đại là logike cũng mượn từ tiếng Pháp logique. Tiếng Pháp logique lại là mượn từ tiếng La Tinh logice. Tiếng La Tinh lại là mượn từ tiếng Hy Lạp logikê trong từ tổ logikê tekhnê, có nghĩa
là nghệ thuật biện luận. Phiên âm thành logice
chưa đủ, dân La Mã ngày xưa còn cứ theo đặc điểm của tiếng La Tinh mà đặt thêm
danh từ logica, cùng nghĩa. Tóm lại,
cả ta, Tàu, Pháp, Anh và La Mã đều gián tiếp hoặc trực tiếp mượn của Hy Lạp; chẳng
có ai dùng thứ của mình. Dân Nhật cũng mượn mấy tiếng luân lý (học) của Tàu mà
đọc theo âm Hán Hòa thành ronri
(gaku).
Vậy phải thay lô-gích
bằng “từ Việt” nào thì chúng tôi thấy rất khó. Chỉ xin nhấn mạnh rằng không nên
dùng nó một cách “đại trà” khi nó chỉ có nghĩa là “hợp lý”. Cá nhân chúng tôi
thì rất thích dùng mấy tiếng luận lý học
để chỉ môn logique formelle (luận lý
học hình thức) cổ điển.
Kiến
thức ngày nay, số 129, ngày 15-1-1994.
Thứ Hai, 17 tháng 5, 2021
Nói á kim, á hậu, vv..Vậy có thể nói “á nam á nữ” hay phải nói “ái nam ái nữ”?
ĐỘC GIẢ: Nói á kim, á hậu, vv..Vậy có thể nói “á nam á nữ” hay phải nói “ái nam ái nữ”?
AN
CHI:
Trong á kim, á hậu, vv..á có ngĩa là thứ, là dưới một bậc. Thí dụ:
á khanh
là một chức quan to dưới bậc khanh; á
nguyên là người thi đậu sau người đậu đầu; á tử là con trai thứ, vv.. Còn ái
có nghĩa là giống như, phảng phất như. Vậy ái
nam, ái nữ là vừa giống nữ mà lại vừa giống nam. Ở đây không thể dùng á được.
Kiến thức ngày nay, số 129, ngày 15-1-1994.
Thứ Năm, 13 tháng 5, 2021
Kiến thức ngày nay, số 122, Chuyện Đông chuyện Tây, trang 82, có nói về câu “Ta đã đến, ta đã thấy, ta đã thắng”. Theo tôi biết, không phải Jules Caesar đã nói câu này sau khi đánh tan quân của Pharnacae II vua xứ Bosphore, mà là sau khi đã chiếm được xứ Gaule (tức nước Pháp ngày nay). Xin bạn An Chi chấp nhận cho lời góp ý của tôi.
ĐỘC GIẢ: Kiến thức ngày nay, số 122, Chuyện Đông chuyện Tây, trang 82, có nói về câu “Ta đã đến, ta đã thấy, ta đã thắng”. Theo tôi biết, không phải Jules Caesar đã nói câu này sau khi đánh tan quân của Pharnacae II vua xứ Bosphore, mà là sau khi đã chiếm được xứ Gaule (tức nước Pháp ngày nay). Xin bạn An Chi chấp nhận cho lời góp ý của tôi.
AN
CHI:
Chúng tôi sẵn sàng thọ lãnh những lời góp ý đúng và biết ơn người đã góp ý.
Nhưng ý của ông góp thì không đúng.
Để ông dễ dàng đối chiếu, xin chép hiến ông lời giảng
về câu Veni, vidi, vici (Ta đã đến,
ta đã thấy, ta đã thắng) nơi các trang hồng (page roses) của Petit Larousse Illustré 1992: “Mots célèbres par lesquels
Caesar annonça au sénat la rapidité de la victoire qu’il venait de remporter
près de Zéla (47) sur Pharnace, roi de Bosphore”, nghĩa là “danh ngôn mà Caesar
dùng để thông báo cho Viện nguyên lão sự mau lẹ của chiến thắng mà ông ta mới
giành được ở gần Zéla (năm 47) trước Pharnace, vua xứ Bosphore”. Đây là sự kiện
xảy ra năm 47 tr. CN. Còn xứ Gaule thì đã bị Caesar chinh phục từ giữa thế kỷ I
tr. CN. Thủ lãnh của dân Gaulois là Vercingétorix đã đầu hàng tại Alésia năm 52
tr. CN rồi bị giải về La Mã. Đến năm 51 tr. CN thì xứ Gaule đã hoàn toàn bị
chinh phục. Sau đó đến 4 năm (47 tr. CN) thì Caesar mới tuyên bố câu “Veni,
vidi, vici”.
Kiến
thức ngày nay, số 128, ngày 1-1-1994.
Thứ Bảy, 1 tháng 5, 2021
Ai là người Việt đầu tiên viết văn tiếng việt bằng chữ quốc ngữ?
ĐỘC GIẢ: Ai là người Việt đầu tiên viết văn tiếng việt bằng chữ quốc ngữ?
AN CHI: Cứ theo Lịch sử chữ quốc ngữ của Đỗ Quang Chính (Sài Gòn, 1972), thì đó là hai người: Igesico Văn Tín và Bento Thiện. Trong thời gian lưu lại châu Âu, tác giả Đõ Quang Chính đã có dịp và có điều kiện đến một số văn khố và thư viện ở Roma, Madrid, Lisboa, Paris, Lyon và Avignon và đã khám phá ra nhiều tài liệu viết tay vô cùng quý báu, liên quan đến lịch sử chữ quốc ngữ. Trong những tài liệu viết tay đó, có bức thư dề ngày 12-9-1659 của Igesico Văn Tín viết cho linh mục G. F. de Marini, bức thư đề ngày 25-10-1659 của Bento Thiện, cũng viết cho linh mục Marini và tập Lịch sử nước Annam (Đỗ Quang Chính gọi theo quy ước vì tập này không hề có nhan đề) của Bento Thiện mà tác giả nhận định là được viết vào đầu hoặc giữa năm 1659. Ba tài liệu trên đều viết bằng chữ quốc ngữ. Về người thứ nhất, Đỗ Quang Chính cho biết như sau: “Igesico Văn Tín gồm hai tên: tên thánh và “tên tục”. Tên Igesico (Hoàng Xuân Hãn và Thanh Lãng ghi: Igessio – AC) hay Iglésis. Iglesias là một thứ mà ngày nay hiếm người mang tên đó, kể cả người châu Âu. Khi Văn Tín gia nhập Giáo hội Công giáo mới bắt đầu mang tên Igesico. Còn chính tên họ của Văn Tín là gì thì không được ghi lại, vì cứ theo chữ ký của ông, chỉ có hai chữ Việt là Văn Tín. Khi biên thư này, tác giả được bao nhiêu tuổi, sinh quán ở đâu, hoạt động ra sao, chúng tôi không rõ. Trong sổ bộ các Thầy giảng Đàng Ngoài năm 1637 do L.m. Gaspar d’Amaral ghi lại, không thấy dấu vết gì về Văn Tín”(1). Về người tứ hai, tác giả cho biết: “Bento là tên thánh của ông; đó là danh từ Bồ Đào Nha, tiếng La Tinh là Benedictus, tiếng Pháp Benoit, tiếng Việt Bê Nê Đích Tô hay Biển Đức. Chúng tôi không biết rõ lai lịch Bento Thiện, những có lẽ ông là người mà Gaspar d’Amaral đã nhắc lại trong tài liệu năm 1637. Sử liệu trên có ghi danh sách những người thuộc bốn bậc “Dòng Tu” Thầy Giảng, trong số này có một người tên là Bento (không có tên Việt Nam) ở bậc Kẻ Giảng, tức là cấp thứ hai, tính đến năm 1637, Bento được 23 tuổi, theo đạo Công giáo được 11 năm, tức là năm 1627. Như vậy Thầy Bento là một trong những người đầu tiên do L.m Marques hoặc Đắc Lộ rửa tội ở Đàng Ngoài.” (2). Chúng tôi phải dè dặt ghi tên hai người như trên là vì tuy thư của Igesico Văn Tín viết ngày 12-9 còn thư của Bento Thiện viết ngày 25-10 cùng năm nhưng tác giả Đỗ Quang Chính đoán rằng Bento Thiện có thể đã viết Lịch sử Annam từ đầu hoặc từ giữa năm đó. Vậy xin tạm coi đó là hai người “đồng thời”. Ngoài ra còn phải tính đến khả năng là có người (hoặc những người) Việt Nam khác đã viết tiếng Việt bằng chữ quốc ngữ trước cả Igesico Văn Tín và Bento Thiện nhưng bút tích của họ đã vĩnh viễn thất lạc.
1.
Sđd, tr.92. 2. Sđd, tr.98-99 Kiến thức ngày nay, số 127, ngày 22-12-1993.
Kiến
thức ngày nay, số 127, ngày 22-12-1993.
Thứ Bảy, 17 tháng 10, 2020
Tại sao lại gọi Hoa Kỳ là Chú Sam?
ĐỘC GIẢ: Tại sao lại gọi Hoa Kỳ là Chú Sam?
AN CHI: Chú Sam là dịch từ tiếng Anh Uncle Sam. Cụm từ này đã được Petit Larousse Illustré 1992 giảng là
“hình thức nhân cách hóa mỉa mai của Hiệp chúng quốc (= Mỹ - AC) mà tên gọi được
lấy từ các chữ U.S.Am (United States of America)”. Chữ U được diễn đạt thành
Uncle = (chú) còn chữ S được ghép với Am mà đọc thành Sam.
Chúng tôi cho rằng trên đây là một cách giải thích khiên cưỡng. Người Mỹ chỉ viết
tắt United States of America thành U.S.A. hoặc bỏ A. (= America) mà viết thành
U.S. Nhưng “U.S.Am” thì lại là một hình thức dị thường. Liên quan đến hai chữ
cái a và m, tiếng Anh chỉ có các dạng tắt quen thuộc sau đây:
- AM là amplitude modulation (điều biến biên độ)
- A.M. (do tiếng La Tinh Artium Magister) là Master of Arts (Cử nhân Văn Chương).
- A.M., cũng viết a.m, do tiếng La Tinh anti meridiem nghĩa là ngọ tiền
trước 12 giờ trưa);
- Am., trong ngữ học là American (tiếng Mỹ).
Chúng tôi chưa thấy trường hợp nào mà Am lại là dạng tắt của America (châu Mỹ).
Eric Partridge đã khẳng định trong Origins
(Routledge & Kegan Paul, London, 1961) rằng Sam là dạng tắt của Samuel.
Chúng tôi cho rằng đây là một điều khẳng định xác đáng. Partridge cho biết tiếp
rằng Sam xuất hiện những lần đầu tiên
trong hai cụm từ Sam Browne belt và Uncle
Sam. Sam Browne belt (tức Samuel
Browne belt) là thắt lưng (dây nịt) của Samuel Browne, rồi thắt lưng theo kiểu
(thắt lưng) của Sam (uel) Browne. Ngày nay, người ta chỉ nói Sam Browne để chỉ thắt lưng và đai của
sĩ quan. Còn Uncle Sam là cụm từ mà
dân một địa phương ở Hoa Kỳ đã dùng để gọi một viên thanh tra thịt súc vật tên
là Samuel Wilson, đương chức khoảng
thập kỷ 1810. Ông này chuyên môn đóng con dấu có các chữ “U.S.-E.A” vào các súc
thịt nguyên con (chưa sả). E.A. là Elbert Anderson, tên của người cung cấp thịt
theo hợp đồng lúc bấy giờ. Còn U.S đương nhiên là United States (= Hoa Kỳ). Những
rõ ràng U.S cũng còn là hai chữ đầu của Uncle Sam. Chính vì vậy mà dân chúng ở
đó đã đồng nhất hóa U.S = United States với U.S. = Uncle Sam mà gọi đùa Hoa Kỳ
là Chú Sam vì Uncle Sam, tức Samuel Wilson, nắm con dấu có hai chữ U.S, thì
cũng được coi như “đại diện” ngon lành cho United States tức Hoa Kỳ. mặc dù đó
chỉ là con dấu để đóng vào thịt súc vật mà thôi.
Webster’s New International Dictionary
cũng giải thích tương tự như E. Partridge. Rõ ràng là trong trường hợp này Origins hợp lý và đáng tin hơn Larousse.
Kiến thức ngày nay, số 123, ngày
15-11-1993
Thứ Sáu, 16 tháng 10, 2020
Có người nói tên thật của vua cuối cùng đời Thương ở Trung Quốc không phải là Trụ. Vậy Trụ là gì và tên thật của Trụ là gì?
ĐỘC GIẢ: Có người nói tên thật của vua cuối cùng đời Thương ở Trung Quốc không phải là Trụ. Vậy Trụ là gì và tên thật của Trụ là gì?
AN
CHI:
Trụ là tên do người đời đặt để gọi
ông vua cuối cùng của đời nhà Thương (cũng gọi là nhà Ân). Về tiếng Trụ, Từ
nguyên đã giảng như sau: “Theo phép đặt tên thụy, phàm kẻ tàn nhẫn phụ
nghĩa thì gọi là trụ. Vua nhà Ân là Tân, nướng đốt người trung nghĩa tài giỏi,
mổ bụng phụ nữ có thai cho nên thiên hạ gọi là Trụ” (Thụy pháp tàn nhẫn tổn
nghĩa viết trụ. Ân đế Tân phần chá trung lương, khô khích dựng phụ, cố vi thiên
hạ vị chi Trụ). Tên thật của Trụ là Tân. Sử
ký, Ân bản kỷ chép: “Vua Ất băng,
con là Tân lên ngôi, thiện hạ gọi Trụ”. Tân là tên đặt theo thập can. Đây là thể
chế đời Ân quy định việc lấy ngày đặt tên. Nguyên thập can (giáp, ất, bính,
đinh, mậu, kỷ, canh, tân, nhâm, quý) là hệ thống tên ngày của đời Ân (đó là tên
của mười ngày trong tuần vì một tuần ngày xưa có mười ngày, còn thập nhị chi là
tên của mười hai giờ trong một ngày-đêm). Nhìn vào phả hệ nhà Ân thì sẽ thấy
đúng như thế. Con của Tân là Canh, cha của Tân là Ất, cha của Ất (ông nội của
Tân) là Đinh, vv..Đó đều là tên lấy trong thập can.
Sau đây là lời giải đáp về cách đặt tên trên: “Tại sao
kẻ sáng lập ra thời đại có sử trước hết lại phải lấy tên ngày đặt tên? Sự thăm
dò khí hậu nhất định rất quan trọng đối với sinh hoạt của người chăn nuôi (ở thời
nhà Ân – AC), nhất là những ngày mưa gió đối với bầy súc vật; trong bốc từ còn
giữ lại những lời bói toán về tai nạn gió mưa, để đoán lành dữ, họa phúc. Đồng
thời, khí hậu tự nhiên có tính chất thời tiết cũng rất quan trọng đối với việc
trồng trọt sản xuất, đối với việc vua chinh chiến, đối với việc bản tộc sinh
sôi nảy nở ra nhiều. Cho nên việc tiền nhân nhà Ân lấy ngày đặt tên phản ánh sự
nắm vững hoàn cảnh tự nhiên biến hóa, đặc biệt là nắm vững quan niệm thời
gian”. (X.Hầu Ngoại lư,
Triệu Kỳ Bân, Đỗ Quốc Tường, Bàn về tư tưởng cổ đại Trung Quốc, Chu Thiên và Lê
Vũ Lang dịch, Hà Nọi, 1959, tr.103.)
Kiến
thức ngày nay, số 123, ngày 15-11-1993





