Ẩn thân bên cạnh Chúa Trời, thì hơn tin cậy ở người trần gian. Cậy nhờ thần thế vua quan, chẳng bằng ẩn náu ở bên Chúa Trời. Tv 118
Hiển thị các bài đăng có nhãn 3.Xứ Ghe Tám - Hưng Định. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn 3.Xứ Ghe Tám - Hưng Định. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 11 tháng 12, 2012

Khu du lịch Cầu Ngang, Lái Thiêu

" Đêm rằm mười sáu trăng treo
Anh đóng giường lèo, cưới vợ Lái Thiêu"

Câu ca dao được lưu truyền nơi đây từ lâu đời đã nói lên mơ ước của bao chàng trai đối với vùng đất có những cô gái đẹp, hồn nhiên và vùng trái cây trù phú nổi tiếng này - Vùng đất trở thành khu du lịch miệt vườn, du lịch sinh thái nhiều triển vọng.
Qua khỏi cầu Bình Triệu, theo Quốc lộ 13 đi khoảng 20 phút xe máy, du khách sẽ gặp một vùng đất cây trái quanh năm xanh tốt, khí hậu trong lành thuộc tỉnh Bình Dương, một địa danh nổi tiếng đã bao đời nay với đủ loại trái cây ngon nhất của miền Đông Nam Bộ. Vườn cây Lái Thiêu trải rộng khoảng 1.200 ha nằm trên địa bàn 4 xã: An Sơn, An Thạnh, Hưng Định và Bình Nhâm. Đặc biệt ở xã Hưng Định, An Thạnh vườn cây chiếm khoảng 140 ha, được quy hoạch thành từng loại cây đặc sản, có hệ thống kênh rạch đi vào từng vườn, lại có hệ thống đường đất đỏ len lỏi giữa các lùm cây rợp bóng mát, cây trái trĩu cành, du khách có thể giơ tay lên và với được. Đó là khu du lịch cầu ngang Lái Thiêu mà đã đến một lần du khách khó có thể quên.
Ở Lái Thiêu có nhiều loại cây ăn trái, song nổi tiếng nhất phải kể tới là măng cụt và sầu riêng. Măng cụt ở đây là loại cây chính gốc Mã Lai được các nhà truyền giáo phương Tây đưa về trồng từ 200 năm nay. Măng cụt là loại cây sống rất lâu năm, tán lớn, rậm rạp, không sợ ngập nước. Từ khi trồng đến khi ra trái lần đầu là 6 năm. Trái đậu nhiều nhất từ năm thứ 8 trở đi. Theo các cụ lão nông ở đây thì măng cụt có thể sống trên 100 năm. Cây măng cụt trổ bông thay lá vào tháng 2, tháng 3. Mùa trái chín từ tháng 5 đến tháng 7. Có lẽ do được mọc trên đất phù sa màu mỡ và khí hậu trong lành mát mẽ nên trái măng cụt nơi đây còn to hơn và ngon hơn tại quê hương của nó. Trái măng cụt chín có màu tím sẫm, bổ ra múi bên trong trắng tinh, hương thơm dịu mát, cắn nhẹ lên múi, nước từ trong múi chảy ra, một vị ngọt thanh dịu thấm từ lưỡi tới cuống họng thật sảng khoái dễ chịu. Có thể ăn no mà không sợ đầy. Đến Lái Thiêu không thể bỏ qua trái măng cụt thơm ngon của miền cây trái nổi tiếng này.
Đến mùa tháng 5, sầu riêng bắt đầu cho trái chín, cây sầu riêng gốc cũng từ Mã Lai du nhập vào đây. Sầu riêng khá cao - trên 10 m - đứng từ xa ngắm vườn cây ta dễ dàng nhận ra nó, cây cao vút hơn hẳn những cây xung quanh, tán lá hình nón nhọn, lá có màu vàng xám. Từ một thân cây thẳng, cành mọc ra chia đều xung quanh, rải rác khắp các cành trĩu nặng quả. Trái sầu riêng nhiều gai nhọn, cứng, nặng từ 2-5kg, khi trái chín nó tự rụng xuống. Nhưng bạn cứ yên tâm đi dưới tàn lá râm mát của vườn sầu riêng, vì trái chỉ rụng vào ban đêm. Các cụ lão nông cho biết, cả mấy trăm năm các vườn cây ở đây, chưa thấy nói ai bị tai nạn vì sầu riêng rụng. Cầm trái sầu riêng chín trong tay ngửi mùi, lúc đầu có thể bạn chưa cảm tình, song dùng tay bửa mạnh lớp vỏ cứng ra, bên trong sẽ là những múi vàng óng, cắn lớp cơm dày, bạn sẽ tận hưởng vị ngọt béo ngậy, ngọt đậm đà và một dư âm để lại mà chỉ có trái sầu riêng, đã ăn rồi thì khó mà quên.

Kể các loại cây ở Lái Thiêu mà không nói tới "mít tố nữ" thì thật là thiếu sót. Cây mít tố nữ không lớn như mít thường, song trái thật đặc biệt. Có những cây trái bám kín xung quanh thân.

Ngoài các cây trên, Lái Thiêu còn có chôm chôm, bòn bon, dâu. Có lẽ do phù sa màu mỡ và khí hậu mát mẻ nên các trái cây ở đây đều vỏ mỏng, cùi dày và ngọt.

Tới Cầu Ngang - Lái Thiêu, khách có thể đi thăm vườn bằng hai đường: Tản bộ qua cầu, theo các con đường đất đỏ, tàn cây rợp mát che kín đường đi, gió nhẹ thoảng hương thơm cây trái. Hai bên đường là vườn cây trĩu quả, bước qua một rãnh nhỏ là du khách đã vào vườn. Đi trên thảm lá khô, dưới bóng cây mát rượi, trên đầu là đủ thứ trái cây chín, không khí thật yên lặng xa hẳn tiếng xe cộ ồn ào đô thị, du khách sẽ thấy nhẹ nhàng tâm hồn. Ngồi trên ghế bố dươí tàn cây hưởng gió mát, bạn có thể nghe thấy tiếng côn trùng, tiếng chim hót xa xa và cả tiếng lá rơi xào xạc. Mọi nỗi mệt nhọc của những ngày tháng làm việc căng thẳng, vất vả như được tiêu tan. Nếu du khách muốn đi theo kênh rạch, đầu Cầu Ngang đã có nhiều đò máy đón sẵn. Bước xuống xuồng, bạn được đưa theo các con rạch vào vườn. Từ dưới kênh, nhìn hai bên bờ cây trái trĩu cành, những mái nhà ẩn hiện sau lùm cây, bạn có cảm tưởng như đang đi trên miệt kênh rạch đồng bằng Nam Bộ trù phú. Đò máy sẵn sàng ghé bất cứ nơi nào bạn thích để lên vườn thưởng thức trái cây. Bạn cũng có thể đi theo hàng chục kilômét kênh rạch, ngắm nhìn thỏa thích những vườn cây, đắm mình trong hơi nưóc và gió mát, thực sự hòa mình vào thiên nhiên làm tiêu tan mọi phiền muộn.
(Sưu tầm)

Tìm hiểu nghề Gốm ở Hưng Định



Lò gốm mang tên Chòm Sao vốn đã có tiếng từ đầu thế kỉ 20 qua truyện ngắn của nhà văn Bình Nguyên Lộc. Trên con đường đi tìm lò gốm nổi tiếng này, chúng tôi đã đến xã Hưng Định, huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương.Tại đây, chúng tôi đã được cán bộ xã đưa đến các địa danh từng một thời nổi tiếng như chợ Búng, Rạch Bùng, sông Búng, phố Tàu, lò gốm cổ mang tên ông Hai Ca, gò ông Ba Sành…
Hưng Định nằm ở khoảng giữa của hai vùng gốm cổ lớn ở thế kỉ 19 - thế kỉ 20 là Lái Thiêu và Thủ Dầu Một. Sông Búng chảy qua địa phận xã là một nhánh của sông Sài Gòn cùng với hệ thống kênh rạch chằng chịt từng là mạng lưới thông thương quan trọng. Thế kỉ 18 mới có các cư dân đến đây lập nghiệp và đến đầu thế kỉ 19 Hưng Định được triều đình nhà Nguyễn cho phép thành lập làng. Hưng Định ngày nay có 3 ấp là Hưng Phước, Hưng Thọ và Hưng Lộc. Các lò gốm tập trung nhiều nhất ở ấp Hưng Lộc. Khu lò gốm Chòm Sao (địa phương gọi là lò chén Chòm Sao) thuộc ấp Hưng Lộc, nơi trước đây có cây sao cổ thụ phải 3 người ôm mới hết. Lò Chòm Sao thủa ban đầu do các thợ gốm Triều Châu (Quảng Đông) dựng lên. Họ chuyên sản xuất các loại bát, đĩa men trắng vẽ lam hình rồng, phượng, hoa cúc, con gà…sau đó là người Hẹ và một số nhóm khác cũng tới vùng này lập lò gốm. Hiện ở Hưng Lộc có các họ người Hoa là: họ Dương, họ Vương, Lí, Trần, Kha, Tiêu, La…Họ ở tập trung trong 4 xóm. Tại đây có 4 miếu trấn 4 hứơng, hướng đông là của họ Vương, hiện là họ có cơ sở sản xuất lớn và lâu đời ở đây. Thợ gốm Hưng Định không còn chuyên làm một số loại sản phẩm như trước đây nữa. Ngoài bát, đĩa, người ta còn sản xuất cả khạp (vại), chậu hoa, lư hương, tượng động vật như chó, gà ,ếch, sư tử , hổ, voi, kì lân…
Kề sát với Hưng Định là Thạnh Hoà, trước ngày giải phóng, có một số cơ sở làm gốm từ Sài Gòn về đây lập lò gốm đã thuê khá nhiều thợ gốm Hưng Định về làm.
Cao lin làm gốm của các lò ở Hưng Định cũng là từ vùng Đất Cuốc (huyện Tân Uyên), và caolin Đà Lạt. Người ta cũng đã có lúc lấy cả caolin Chí Linh (Hải Dương), nhưng theo các thợ gốm ở đây, caolin Chí Linh mặc dù rất tốt, nhưng không thích hợp với việc sản xuất đồ gốm kích thước lớn. Caolin Đất Cuốc màu trắng hơi ngả vàng, xốp, hạt cát trắng, mịn dùng làm xương gốm. Đất làm gốm được đưa vào bể lọc, khuấy đục, được dẫn vào bể lọc thứ hai. Tại đây cát nặng hơn, chìm xuống, tinh caolin nổi lên, được đưa vào bể lắng để loại bỏ tạp chất hữu cơ khác ,sau đó lại thay nước nhiều lần, đến khi xả nước ra thấy trong là được. Sau khi dã lọc xong, caolin được phơi khô để làm cốt.
Đất làm bao nung lấy ở Gò Đình (thuộc thị trấn An Thạnh, huyện Thuận An). Đất ở đây màu vàng lẫn đỏ, không cần lọc. Thành phần của đất lẫn sỏi son, cát. Muốn lấy đất, phaỉ đào giếng, đường kính khoảng 1,2m. Đất lấy ở độ sâu 6 m  Lò gốm xây bằng gạch, Đất làm gạch và xây lò lấy từ ấp Bình Thuận (Xã Thuận Giao). Đất ở đây mầu vàng, dẻo, thành phần gồm cát vàng, có một ít tỉ lệ caolin.
Cát làm men phải là loại cát mịn, tơi, nhẹ, trắng trong. Trước đây người ta dùng men tro trấu. Hiện nay dùng men đá .
Phương pháp tạo dáng đồ gốm chủ yếu là đổ khuôn. Đồ gốm có men thì dùng bao nung. Bao nung đáy bằng dùng nung các loại bình đựng hoa, lư hương. Bao nung của vùng Tân Phước Khánh đáy lồi, còn bao nung ở đây, đáy lõm. Bao nung đĩa có đường kính 25cm, cao 7cm, sâu 5cm, dày 1cm. Bao nung bát, đường kính 17 cm, cao 5,5cm, sâu3,5cm, dầy 1cm. Trước đây, các loại gốm như lu, khạp được coi là của người Phúc Kiến và ở đây là lò của người Triền Châu, chỉ sản xuất bát, đĩa, bình hoa, thì ngày nay người ta làm cả lu, khạp (hũ lớn).
Khạp có các cỡ như sau:
Khạp nhất dung tích chứa khoảng 24lít, khạp nhì 60 lít, khạp ba 40 lít, khạp tư 20 lít. Cách gọi này có lẽ do thói quen, bởi khạp mười lại là loại có đường kính miệng là 10cm. Khạp nhì có đường kính miệng 35cm. Các loại nhỏ hơn nữa thì gọi là hũ.
Cách tạo đồ gốm đều theo lối đổ khuôn rồi sửa trên bàn xoay.
Lò nung gốm ở Hưng Định có hai loại: lò bao (còn gọi là lò căn) và lò ống. Nhưng ở đây người ta chủ yếu sử dụng lò ống .
Lò ống : Gồm có 3 phần : Căn bầu, thân lò và ống khói. Căn bầu được đào sâu xuống lòng đất 2m. Lò xây bằng gạch chịu lửa, kích thước 27cm ´ 17cm´ 5,5cm. Nền lò hình thang, lát gạch chịu lửa, có nhiều bậc cấp, mỗi bậc cách nhau 15cm, được làm dốc dần lên phía cuối lò. Lò dài nhất tới70m. Các lò trung bình dài khoảng 30m. Mỗi bên thân lò có từ 3-5 cửa ra vào lò, tuỳ vào độ dài của lò. Lò ống chỉ có một ống khói duy nhất ở cuối lò, mỗi bên sườn lò có các lỗ chụm củi (tiếp củi). Vòm lò, dày 0,20m, được cuốn bằng gạch lưỡi búa. Vòm làm cao dần từ 2m đến hơn 3m. Lò ống không có các vách ngăn ở thân lò.
Lò bao : là một dạng của lò rồng, cũng có 3 phần như lò ống. Nền lò dốc dần lên. Lò có nhiều ngăn. Mỗi ngăn có các cửa dẫn lửa thông với nhau ở chân các tường ngăn. Mỗi ngăn có một cửa ra vào lò, hai ngăn chung một lỗ chụm củi (tiếp củi) và một trụ đỡ. Chiều cao và chiều rộng của mỗi ngăn tăng dần theo chiều dài của lò. Lò bao có thể làm dài đến 100m. Lò bao có thể có tới vài chục lỗ thoát khói.
Nhiên liệu  dùng nung gốm  là các loại cành củi rừng như cây sếu, cò ke ,quí hương… Còn hiện nay người ta dùng cành cây cao su là chủ yếu.
Làng Hưng Định chính là lò gốm Chòm Sao trước đây của người Hoa từ Triều Châu sang lập nghiệp, trong đó có lò gốm của ông chủ lò mang tên Dương Pho.
Hưng Định trong lịch sử đã có những đóng góp đáng kể vào sự phát triển của vùng gốm Lái Thiêu và Thủ Dầu Một.
Nghề làm gốm ở đây góp phần quan trọng vào việc tìm hiểu lịch sử phát triển gốm cổ của vùng Sài Gòn- Gia Định xưa./.

Trần Anh Dũng


Thứ Hai, 8 tháng 6, 2009

Ông Bình - Làng Hưng Định - Họ Đạo Búng


ÔNG BÌNH
LÀNG HƯNG ĐỊNH
HỌ ĐẠO BÚNG
HƠN 200 NĂM VỀ TRƯỚC
(trước năm 1800)
Ở Miền Nam có:
o       Trấn BIÊN HÒA
o       Phủ PHƯỚC LONG
o       Huyện BÌNH AN
o       Tổng BÌNH CHÁNH
Tổng BÌNH CHÁNH có 12 làng:
AN-THẠNH,BÌNH-ĐÁN,BÌNH-ĐỨC,BÌNH-GIAO, BÌNH-NHÂM, BÌNH-SƠN,BÌNH-THUẬN, HÒA-THẠNH, PHÚ-HỘI,PHÚ-LONG, TÂN-THỚI, VỈNH-BÌNH.
Chưa có:
LÀNG HƯNG ĐỊNH
Như chúng ta thấy ngày nay, xã Hưng Định là một vùng nhỏ, chỉ bằng một ấp của xã Bình Nhâm hay An Thạnh, khi đó là một vùng ẩm thấp mà người quanh vùng gọi là cái Búng, trong có nhiều đường nước nhỏ gọi là đường long, vùng rạch Cây Trâm vô tới vùng Đất Thánh Búng, ngày nay chỉ là một con suối, nhưng khi trước nó là một đường rạch lớn mà ghe thuyền có thể ra vào được.
Thời kỳ đó ở Quãng Ngãi, có ông Nguyễn Thới Bình, sau khi thi đậu Bảng Nhãn, được cử chức Tri châu, làm quan trong thời loạn lạc, mà lại vì tín hữu Công giáo, nên sau 12 năm ở quan trường, ông cáo bịnh từ chức, sang qua y nghiệp, lấy hiệu là Đức Trọng. Mỗi năm ông thường theo ghe Bầu vào Nam bán thuốc trị bịnh, với mộng di cư lập nghiệp.
Đến vùng Búng, ông để ý đến cái thung lũng đó, muốn đến lập cư khai khẩn, nhưng vì cha mẹ còn sống không bỏ đi được, đến khi ngoài 40, cha mẹ không còn và là người Công giáo, nên ông quyết định xa lánh mặt trời, vào miền Nam để giữ đạo.
Khi lên đường di cư vào Nam , ông với vợ và 2 con: Một gái tên là Nguyễn Thị Hưng đã có chồng là Lê Văn Quyền, và một con trai là Nguyễn Văn Định chưa vợ.
Mới đến, ông tá túc tại một nhà người quen ở Lái Thiêu, rồi từ từ 3 cha con vào Gò Cầy (bây giờ là vùng từ Bình Hòa lên ngã tư Hòa Lân) cắt tranh, chặt cây làm nhà, nhà cất ở khoảnh đất cao, cạnh (phía tây) đất thánh Búng ngày nay.
Định cư xong, ông Bình lo sắm trâu để làm ruộng, nuôi vài con ngựa để làm phương tiện di chuyển, nhứt là để đi làm thuốc ở những nơi xa.
Sau một thời gian, ông ra riêng cho người con gái và con rể ở vùng Cầu Ngang và cưới vợ cho con trai, người họ Võ ở Lái Thiêu.
Tạo được sự nghiệp, ông Bình thường cho con rể và con trai về quê miền Trung để quyến rủ bà con thân thuộc cùng vào Nam lập nghiệp, một số người ở vùng quanh thấy có cuộc qui dân lập ấp cũng đến. Thấy có số đông người đến ở, ông Bình đi thương lượng với các xã xung quanh để phân chia ranh giới và xin đăng ký với Triều đình để lập một xã mới.
Xã  mới lấy tên là HƯNG ĐỊNH, xã thứ 13 trong tổng Bình Chánh.
Ông  lấy tên 2 đứa con mà đặt cho xã, người thời đó có thói quen hay cữ nói đến tên người lớn  thì lấy làm lạ lắm, ông biết được nên mới giải thích, Hưng và Định là con của tôi, nay xã này phần lớn do bàn tay tôi tạo nên, nên nó cũng là con của tôi, con cháu sau này khi nói đến, chúng có dịp nhớ đến ông bà tổ tiên.
Xã được phân làm 3 ấp:
·        Ấp HƯNG PHƯỚC          (ở giữa)
·        Ấp HƯNG LỘC                (ở lò chén Chùm sao)
·        Ấp HƯNG THỌ                (ở Cầu Ngang)
Xã được khai sanh với:
·        Ông Lê Văn Quyền làm Hương Cả
·        Ông Nguyễn Văn Định làm Xã Trưởng
Ông Bình có đặt 2 câu liễng đối treo ở Công Sở:
XUÂN CÚC THU ĐÀO HƯNG ĐỊA VINH HUÊ VÔ HẠN LẠC
NGỌC ĐƯỜNG KIM MàĐỊNH GIA NHỰT LỆ HỮU THỜI LAI
(Liễng đối này chỉ tồn tại tới năm 1945)
Cơ sở hành chánh xã thường được gọi là Nhà Việc, Trụ sở chánh gọi là Nhà Hội, được xây cất ở ấp Hưng Thọ, đối diện Cầu Ngang. Nhà Việc ấp Hưng Phước ở tại ngã ba, góc đường nhà thờ quẹo vô lò chén Cây Sao, còn nhà Việc ấp Hưng Lộc ở gần cuối đường lò chén.
-----------------------------------------
HỌ BÚNG
Nhóm người Công giáo đến định cư tại vùng cái Búng, đã khai sinh ra họ đạo Búng.
Ông  Trùm đầu tiên là ông trùm Bình, nối tiếp con (Định), cháu (Tín), chắt (Kính), vừa là Trùm xứ đạo vừa là Hương Cả trong làng..
Nhà  thờ đầu tiên được cất gần nhà ông Trùm (Bình) trên đất Đất Thánh ngày nay, để tiện cho ông Trùm gìn giữ và đón rước các Cha, Nhà thờ này là nhà tranh cột chôn, chỉ tồn tại được một cỏi tranh.
Sau đó, nhà thờ được dời ra khu đất (nhà chung) ở dốc Sỏi, khi đó vùng này thuộc xã Hưng Định, nhưng thời kỳ bắt đạo bỏ phế bị An Thạnh lấn qua. Nhà thờ này bị bỏ hoang khá lâu trong thời kỳ cấm đạo.
Sau thời kỳ bắt đạo này, là thời kỳ Pháp đô hộ. Nhà thờ này được dời ra cất ở đất  ông Chư (con thứ hai của ông Tín) gần cầu Cây Trâm. Vì là đất bưng ẩm thấp lầy lội, nên sau ít năm có ông lái bán cá (không biết tên) ở cầu Bà Hai Mọi dưng một  phần đất, bèn dời Nhà Thờ về đó (khu đất Chùa Bà ngày nay).
Cạnh nhà thờ này có trường học, và khởi sự từ đây có Cha Sở là Cha Antôn Võ. Nhà thờ này tồn tại cũng không lâu, vì trong một đêm kia mưa to gió lớn thổi sập tất cả, Cha Sở bị kẹt bên trong nhưng không sao, chờ đến sáng bổn đạo đến phá giở mang Cha ra.
Thấy nơi đây gần đường sá, chợ búa tấp nập, không trang nghiêm nên trong họ đồng ý dời về nơi Nhà Thờ hiện nay. Nhà  thờ này được xây cất xong năm 1888, trần Nhà Thờ và tháp chuông được xây cất lên năm 1952.
Họ đạo Búng có được nhà cha sở xứng đáng là do cha Sở Martin Nghi (1901 – 1916) xây cất, không bằng tiền của xứ đạo, mà là tiền của gia đình Cha (từ bên Pháp).
-----------------------------------------
ĐỨC TRỌNG QUỈ THẦN KINH
Trong thời gian ông Định làm xã, dân chúng trong vùng đều biết cái tin đồn là: Cái miễu bà ở Phú Cường là rất linh thiêng, ai qua đó đều phải khấn vái, nếu cưỡi ngựa cũng phải xuống, ai không vái sẽ bị bà phạt trào máu chết, nhưng ông Xã Định đi ngựa ngang qua vẩn không xuống và cũng không vái van chi cả, người ta biết nhiều, vì một khi kia ông đi nộp thuế về, cùng đi có mấy ông xã mấy làng lân cận, khi qua đó họ đều xuống vái, song ông vẩn đi qua khỏi và ngừng lại chờ, khi các ông kia vái xong rồi lại hỏi sao ông không vái, bà phạt làm sao? Ông trả lời: “Nơi đây tôi qua lại từ lâu, đi chữa bịnh mấy thân chủ ở vùng Chánh Thiện, nào tôi có vái van chi đâu, mà bà có quở phạt chi”. Rồi từ đó có câu truyền tụng “Đức trọng quĩ thần kinh”
-----------------------------------------
CHA QUÍ
(Thánh Phêrô Đoàn Công Quí)
Là con cái trong Họ, Cha Quí sau khi chịu chức linh mục, về quê nhà vinh qui, nói là vinh qui, chớ thật sự chỉ là một Thánh Lễ được tổ chức lén lút ở Gò Cầy.
Sau đó, cha Quí còn nén lại một thời gian ở nhà ông trùm Tín.
Thời kỳ này là thời kỳ bắt đạo gắt gao, bắt Đạo trưởng, bắt luôn cả người oa trữ. Tin có giáo sĩ về trú ở nhà ông Trùm Tín và cũng là ông Cả trong làng đã tới tai chánh quyền. Ông Huyện ở Lái thiêu và Ông Tổng bàn tính đem quân đi bắt.
Hai ông bàn tính với nhau thể nào, đều lọt vào tai của tên thư lại. Sau giờ làm việc, tên thư lại về đến nhà thì gặp bà mẹ đang rên la đau bụng, trong nhà đang lo đâm sả bồ bồ cho uống cấp cứu, tên thư lại liền lấy ngựa chạy ngay lên nhà ông Tín mà anh rất có cảm tình, và vì anh là thân chủ thường xuyên của ông Thầy Đức Trọng (tên hiệu thầy thuốc được lưu truyền từ thời ông Bình).
Sau khi nói căn bịnh, ông thầy đang hốt thuốc thì anh thư lại cũng rỉ vào tai ông thầy mấy câu văn tắt, chỉ thấy ông thầy gật đầu và đáp nhẹ : “Cám ơn, anh đừng lo, tôi đã chuẩn bị…..”
Chiều hôm đó, một chiếc ghe xuôi đường rạch Cây Trâm ra phía vàm Búng, dọc bờ rạch có người quen hỏi, anh Hai đi gát cuốc ở vùng nào?Thị được trả lời: “Anh này quen ở Bà Lụa rủ lên đó gát” (người trả lời là ông Chư và người đồng hành là Cha Quí).
Trời vừa chập tối, ông Tổng hướng dẫn một tốp lính trên vài mươi, bao vây quanh rào một nữa, còn phân nữa vào nhà, ông cho chủ nhà (ông Tín) biết, ở Huyện có người báo cáo nhà ông có chứa đạo trưởng nên sai tôi đi bắt, ông Trùm vui vẻ sẵn sàng trả lời: “Ngài cứ việc thi hành theo lịnh”.
Sau khi lục soát khắp nơi, kết quả không có người, vật gì khả dĩ để dùng làm tang, để chữa thẹn ông lớn tiếng mắng: “Quân nào khốn khiếp cho tin thất thiệt làm mất công, mắng rồi kéo về với vẻ mặt hằn hộc”.
-----------------------------------------
TỴ NẠN Ở BỐ MUA
Sau  biến cố này, cảm thấy nguy, ông Tín bàn giao nhà cửa đất điền cho con cả là ông Chư và các em trông nom, còn nghề thấy thuốc thì giao cho học trò là ông Huy thay thế.
Ông  Trùm cùng với cháu là Hay và hai con là Kính và cô Kiếm đi lên Bố Mua tỵ nạn, ở xóm Bàu Ao.
Lên Bố Mua ở, hàng xóm láng giềng rất mộ mến, đặc biệt là ông Trùm sở tại, ông là người giàu có trong vùng nhưng hiếm con, ông chỉ có một trai, sau khi cưới vợ và sinh được một cháu trai thì anh này lại bị cảm thương hàn nặng quá, bệnh và chết chỉ trong vài hôm.
Bà Trùm vì quá buồn con, sinh bịnh rồi cũng chết theo, ông Trùm thấy mình đã cao niên mà cháu thì còn nhỏ, con dâu có thủ tiết thờ chồng được không gia đình thật neo đơn.
Ông  mới nảy ra ý kiến là xin cậu Hay cháu ông Tín làm con nuôi để coi sóc và thừa kế sự nghiệp của ông, với điều kiện là phải thừa kế luôn cô dâu góa của ông nữa.
Thật thực tế, nhưng trớ trêu, ông Trùm Tín và cậu Hay hẹn một thời gian để suy nghĩ, nhưng trong hàng xóm láng giềng bao nhiêu là ông mai không ăn đầu heo cho rằng hợp lý cứ đốc vô. Sau cùng ông Trùm và cậu Hay đồng ý, và đám cưới được cử hành.
Người con ghẻ của ông tên là Phải, ông Phải có con tên là Khuê, cả hai đều làm đến Hương Cả ở xã Phước Vỉnh.
Cậu Hay có vợ,
Cô Kiếm cũng lấy chồng,
Ông Tín đến Bố Mua, khi rảnh rang ông dạy giáo lý và chữ Nho. Trong số các thanh niên theo học chữ nho có cậu Ngởi, con ông biện ở xóm Vàm Giá là siêng năng và học giỏi, cậu lại để ý con gái của ông thầy là cô Kiếm, cậy mai đến nói, ông Tín thấy con mình đã khôn lớn và cậu Ngởi cũng là con nhà đạo đức tử tế nên bằng lòng gả.
-----------------------------------------
BÀ CON XA
Sau khi gả cô Kiếm xong thì cũng hết thời kỳ khó khăn (giặc Tây đã chiếm Bến Nghé). Cha con ông Tín trở về quê. Khi đi lên 4 người, nay về chỉ còn hai, vậy là còn để lại một số bà con thân thuộc.
Đến thời tôi, (Nguyễn Thới Linh), còn là thanh niên thích chạy xe máy (như môtô ngày nay), có lần lên tới Bố Mua, vào một nhà nọ, thấy trong nhà có một cô gái mà sắc đẹp khá đặc biệt, nên trong lòng cũng….., nhưng sau được biết cô đó là cô của tôi, cô là con gái út của bà Kiếm.
-----------------------------------------
SẮC THẦN
Mỗi làng xã đều được vua ban cho một ông thần để phù hộ dân chúng và để được dân chúng kính bái, tượng trưng bằng cái SẮC THẦN (một ông quan nào đó có công với vua với nước, được vua phong làm thần).
Làng Hưng Định được thành lập thì nhà vua cũng ban cho một sắc thần. Sắc  thần được gởi đến phủ, thì ông cả có phận sự và danh dự đến rước sắc thần về xã.
Nhưng khi Sắc Thần của xã Hưng Định về đến phủ ,thì khi đó xã Hưng Định vắng mặt ông cả (ông Tín cả đương niên còn đang lánh nạn ở Bố Mua ), nên ông Hương Sư Êm và ông Hương Thân (không biết tên), thân sanh ông Hương Lánh, dọn ghe, nghi trang lên Phủ lãnh Sắc về.
Vì  chưa có đình thần, nên sắc được để tại nhà ông Hương Thân (ven rạch Cầu Ngang, bên kia cầu Bà Hai Mọi), và mỗi năm đều có lễ cúng vái đầy đủ, mãi đến năm 1926 mới cất đình trong lò chén cây sao.
(như vậy thì vô phúc cho ông Thần này quá, ông được kính bái ở đình khoảng được 20 năm, từ năm 1945 đến nay ông ở đâu?)
-----------------------------------------
THỜI PHÁP THUỘC
Phủ PHƯỚC LONG  được đổi tên là:
Tỉnh THỦ DẦU MỘT
Huyện Bình An được đổi là:
Huyện Lái Thiêu

*
     Tổ chức hành chánh xã được gọi là Bàn Hội Tề với 12 vị: o       Hương Cả, Hương Chủ, Hương Sư, Hương Trưởng, Hương Chánh, Hương Giáo, Hương Quản, Hương Bộ.
o       Hương Thân, Xã Trưởng và Hương Hào, ba vị này hợp thành một Ban gọi là Ban THỊ NIÊN, tức văn phòng thường trực của xã, sau cùng là Chánh Lục Bộ.
(Còn tiếp tục trong thời Pháp thuộc và chấm dứt vào năm 1945)
-----------------------------------------
ĐƯỜNG LỘ
Khi xưa di chuyển tấp nập ở đường thủy, còn đường bộ chỉ là những đường mòn, đường đất nhỏ hẹp cho xe bò và xe trâu.
Thời Pháp thuộc thì lần lần mở mang đường sá. Năm 1880 phóng con đường từ Lái Thiêu lên Thủ Dầu Một ngang qua Cây Me, Bình Nhâm, Hưng Định, An Thạnh, nhưng không biết tại sao khi tới đường lò rèn (An Thạnh ) thì ngưng luôn.
Đường này được phóng thật ngay, không cong queo như đường mòn, khi phóng có gặp nhà thì bồi thường cho dời đi. Trường hợp này đúng ngay vào nhà của ông bà ngoại tôi (Linh), nằm ngay tầm nhắm, khi Trắc địa viên mang đồ nhắm đến trước nhà, họ phải phá một lỗ vách, để ống nhắm thấy được cây trụ phía bên kia, khi phá vách thì đường nhắm đó xuyên đúng ngay căn buồng mà bà ngoại tôi đang nằm chổ vừa sinh người cậu thứ bảy (cha của bà út Nhỉ) được 10 ngày. Nhà này nằm khoảng giữa nhà chị em Son, Tím và nhà Bảy Khả. Nhà này được dời đi với tiền bồi thường là 100 quan tiền kẽm.
Đường này bị phế bỏ luôn đến năm 1966, có tốp công binh Đại Hàn tu bổ lại.
Bỏ con đường này, nhà nước trở về con đường mòn Từ Lái Thiêu qua Cầu Mới lên Cầu Ngang đi ven rạch Búng qua An Thạnh lên Thủ Dầu Một, đường này được trải đá và hoàn thành vào năm 1895 với tên là quốc lộ 13.
Con đường  từ Bến bụi vô lò chén Cây sao, được mở vào năm 1910 – 1911.
Đường rầy xe lửa Sài Gòn - Lộc Ninh ngang qua Hưng Định, xây cất từ năm 1925, chỉ sử dụng được đến năm 1945, sau đó thường bị phá hoại và dẹp bỏ luôn.
-----------------------------------------
XE CỘ
Người Pháp đem đến hai loại xe kéo bằng ngựa, một gọi là xe kiến dùng để đưa rước hành khách, loại thứ hai có vẻ sang trọng hơn, thời đó trong xã chỉ có ông chủ Tại (ông nội Tư Phải) là có một chiếc xe song mã mà thôi.
Hai loại xe này không được phổ biến, vì có sự xuất hiện ở trong xứ loại xe thổ mộ hay xe hộp quẹt (vào lối 1910). Ngày nay, mặc dầu nhiều nơi không nhìn thấy bóng dáng một chiếc xe thổ mộ, nhưng đặc biệt ở xã Hưng Định con đường từ Chợ Búng vô là chén Cây Sao vẩn còn xe Thổ Mộ chạy đều đều. Xe máy đạp đến xã Hưng Định vào lối năm 1905, cha sở Martin Nghi có một chiếc chạy bằng sên và vỏ bơm, còn loại xe chạy bằng trái khế và vỏ đặc có hai người có, là ông Bảy Hoành (đầu bếp cha sở) và Ba Thượng (cha của ba Phẩm, tư Trực, năm Trung).
Năm năm sau, 1910, mới có 3 người sắm được xe chạy bằng sên và vỏ bơm là ông Xã Qườn (Ông ngoại vợ của tư Đắt), Xã Thiên (cha của dì Khi) và ông Câu Đồ (ông nội của cha Binh).
Lối 5 năm sau (1915) thì xe máy lần lần lan-tràn
-----------------------------------------
THEO LUẬT
Thiếu 3 tháng, không được
Dư 3 tháng cũng không được.
Là trẻ con nhà Công giáo, từ có tuổi khôn đến 12 tuổi trọn, phải vào học ở trường Nhà Thờ cho đến Rước lễ Bao đồng rồi mới được ra trường.
Ở trường học, tôi (Linh) vừa học giỏi vừa được thầy giáo cưng, thầy giáo khi đó là chú Tám của tôi (Thầy Tám Tể, cha ông tư Nhu). Khi đó Rước Lễ vỡ lòng và Rước lễ Bao đồng một lượt, một năm tổ chức một lần vào cuối niên học. Kỳ Bao Đồng năm 1910, theo niên học và thuộc giáo lý, thì tôi được rước lễ và ra trường năm đó, nhưng khi Cha sở lục xem tuổi theo sổ rửa tội, thì tôi còn thiếu 3 tháng nữa mới đủ 12 tuổi trọn, Cha không cho và biểu phải để năm sau Rước lễ và ra trường.
Năm 1911, sau Rước lễ Bao đồng xong, tôi xách khai sanh ra trường Nhà nước (ở Chợ Búng) xin vào học, ông Hiệu trưởng xem qua khai sanh thì lắc đầu, không được vì đã 12 tuổi quá 3 tháng.
Luật khắt khe như thế, thì đành để cuộc đời dốt nát hay sao?
Ông Nội tôi (ông Kính) nghe biết, ông bảo:”Thôi, con đi học tây không được thì thôi, con đi học tàu đi, nhà mình 4,5 đời học Nho, con nên kế tiếp sự nghiệp của cha ông, có học còn hơn không học gì cả”.
(Chép từ gia phả ông Bình của Linh Mục Longinô Nguyễn Thới Mậu)