I. MỘT MẪU NGƯỜI ĐƠN SƠ,
HIỀN LÀNH VÀ KHIÊM TỐN
“Hãy học với Ta, vì Ta
hiền lành và khiêm tốn trong lòng”. Bài học quan trọng Đức Kitô đã dạy cho dân
chúng khi đi theo Ngài và khắc ghi vào tâm hồn các môn đệ của Ngài như là nền
tảng của những đức tính của người tông đồ, để thành công trong mục vụ và để thu
lượm kết quả việc rao báo Tin Mừng. Đức Cha Anrê đã thấm nhuần chân lý này và
thực hiện trong cả cuộc đời, nên được dân chúng đặt cho một tên gọi rất thân
thương gần gũi : là “ông lão nhà quê”, luôn luôn mang một áo dòng đen đã bạc
màu, đầu đội nón cyclô trắng, đón xe đò đi trên các nẻo đường 3 tỉnh Tiền
Giang, Long An và Đồng Tháp, khi đi làm mục vụ của vị chủ chăn, từ sau khi giải
phóng cho đến thời mở cửa (1986).
Được Đức Cha Giuse Trần
Văn Thiện, Giám mục chánh tòa Mỹ Tho, chọn và đặt làm Giám mục phó và chính
Ngài tấn phong cho Đức Cha Anrê trong hoàn cảnh hết sức âm thầm, đơn giản, chỉ
có vài ba cha tham dự tại Tòa Giám Mục Mỹ Tho ngày 10/06/1975.
Chính Đức Cha Giuse sau đó
đã cho các cha Mỹ Tho biết : Lý do Ngài chọn Đức Cha Anrê vì Ngài đơn sơ hiền
lành, ốm còm, như một ông lão nhà quê, đi đâu cũng dễ, lọt vào ngóc ngách nào
cũng vừa, gặp ai cũng được. Đúng như lời nhận xét của Đức Cha Giuse, Đức Cha
Anrê rơi vào môi trường nào cũng được đón tiếp nồng hậu vì như Chúa Giêsu đã
nói “Phúc thay ai hiền lành, vì họ sẽ được đất nước này làm gia nghiệp”.
II. GIÁM MỤC THỨ HAI CỦA
GIÁO PHẬN MỸ THO
“Viên đá thợ xây đã bị
loại bỏ, lại trở nên tảng đá góc tường”.
Ngay sau ngày phong chức
Giám mục cho Đức Cha Anrê, Cha Bề Trên dòng Mến Thánh Giá Tân An, cũng là cha
sở giáo xứ Tân An, Antôn Lê Quang Thạnh, đã công bố tại nhà thờ Thị Xã Tân An
vào sáng lễ Chúa Nhật, “Đức Cha Anrê, Viên đá thợ xây đã bị loại bỏ… được tấn
phong làm Giám mục Phó Giáo phận Mỹ Tho. Cha Antôn trước kia là cha giáo sư
tiểu chủng viện Thánh Phanxicô Xaviê Sài Gòn, biết rất rõ về Đức Cha Anrê. Khi
ngài vô Tiểu Chủng Viện, chỉ được 1, 2 năm, rồi bị bệnh, và học lực cũng không
khá, nên chủng viện khuyên cho về chữa bệnh, vì Ngài có những đức tính tốt, và
kiên trì bền vững theo đuổi ơn gọi, nên cha sở Thị Nghè lúc đó, xin chủng viện
cho Ngài tiếp tục ơn gọi. Ban giám đốc đã chấp thuận cho Ngài tu lại. Vì quyết
tâm và có ơn Chúa Ngài đã qua các lớp Tiểu Chủng Viện và Đại Chủng Viện và được
thụ phong Linh mục ngày 29/03/1952.
III. ĐƯỜNG LỐI MỤC
VỤ
1. Chịu Đau Khổ
“Ai muốn theo Ta hãy bỏ
mình, vác thập giá mỗi ngày để theo Ta”. Đức Cha Anrê đã sống vất vả, cơ cực
suốt cả đời để thực hiện câu châm ngôn Ngài đã chọn : “Được chia sẻ những đau
khổ với Đức Kitô bao nhiêu, anh em hãy vui mừng bấy nhiêu” (1Pr 4,13). Trải qua
các giáo xứ Ngài coi sóc : Bình Trưng, Đông Hòa, Giồng Cát (Tiền Giang), Lương
Hòa Thượng (Long An), đâu đâu giáo dân cũng kể về những khó khăn, thiếu thốn mà
Ngài đã tự nguyện lãnh nhận, bởi vì có đồng bạc, tài sản nào Ngài đều cho hết,
cả người công giáo cũng như lương dân, sống khắc khổ, ăn mặc đơn giản, ăn uống
đơn sơ, nơi ở nghèo khó giữa những người nghèo khổ bất hạnh. Tuy là Giám Mục
của một giáo phận, nhiều lần Ngài tâm sự : Ngài “sợ” các cha vì có nhiều vị yêu
cầu điều này điều khác, mà Ngài không đáp ứng được, nên rất buồn và đau khổ.
Ngài âu lo và khốn khó khi gặp những chuyện tiêu cực, rắc rối xảy ra trong giáo
phận, bất lực không giải quyết được, chỉ biết cầu nguyện, cậy trông vào Chúa
lãnh đạo giáo phận thay cho Ngài.
2. Tâm Hồn Trẻ Thơ
“Hãy để trẻ thơ đến với
Ta, vì nước trời là của chúng”. Đức cha rất thương, mến và vui chơi với trẻ em,
thích nói chuyện và kể chuyện các thánh, dạy giáo lý cho trẻ, vì Ngài nói trẻ
có tâm hồn đơn sơ không phức tạp rắc rối như người lớn.
Các em cũng rất thích và
mến Ngài. Tại Đông Hòa, Giồng Cát, các em thường ôm hôn Ngài, có khi nhảy lên
giường nằm ngủ tỉnh khô. Ngài thường dạy cho trẻ em cầu nguyện và cùng phủ phục
trước Mình Thánh Chúa.
Ngài đặc biệt tôn kính
Thánh nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu và mong muốn cho mọi người nên thánh theo con
đường thơ ấu của Thánh nữ. Ngài luôn có nụ cười trẻ thơ và tâm hồn ngay lành
trong trắng của bé thơ.
3. Chú Trọng Truyền Giáo
Tinh thần truyền giáo
chiếm hết cả con tim của Ngài trong suốt thời gian 24 năm làm Giám Mục. Từ năm
1975 là Giám mục phó và từ 24/02/1989 khi làm Giám mục Chánh Tòa. Ngài luôn
luôn nại vào cớ truyền giáo để giải quyết các vấn đề. Bản thân tôi được các Đức
Giám Mục giáo phận trao cho công tác đặc trách ơn gọi giáo phận, nhiều lần tôi xin
Ngài cho các cha trẻ, có trình độ đi du học để có nhân sự giúp ích giáo phận
trong tương lai, Ngài trả lời vì giáo phận còn nhiều giáo xứ, giáo họ cần có
linh mục coi sóc, lo phần hồn cho giáo dân, nên hãy chờ đợi khi nào có đông
linh mục sẽ tính.
Dồn hết tâm lực vào việc
mở lại các điểm truyền giáo và tìm người trở lại, nên giáo phận có ngân khoản
nào là Ngài đầu tư vào việc truyền giáo hết. Khi các cha mời đi mở giáo điểm
truyền giáo, xây dựng một giáo họ mới, mời đi ban phép Rửa Tội, Thêm Sức, dù xa
xôi vất vả, đường đi cách trở, lội nước, băng đồng, chui qua lạch ruộng, Ngài
rất hăng hái, phấn khởi, ở lại lâu ngày, say mê giảng dạy, có khi giảng quên cả
ăn uống, Ngài vẫn lặp lại Lời Chúa “Lúa chín đầy đồng, thợ gặt lại ít”. Ngài
bảo phải vâng lệnh Chúa “Các con phải đi khắp thế gian loan báo Tin Mừng cho
mọi tạo vật”. Ngài thích thú cắt nghĩa về việc làm cho người ta biết Chúa, và
được lợi các linh hồn khi nhắc lại lời Thánh Don Bosco “Xin hãy cho tôi các
linh hồn”.
Một nét rõ nhất trong đời
Ngài, và đặc biệt nổi bật giữa hàng Giám mục là phong chức chui. Cũng vì mê say
truyền giáo, tìm cách có nhiều Linh mục để công bố Tin Mừng Cứu Độ của Chúa
Kitô đến muôn dân, trong những năm khó khăn, Ngài đã phong chức Linh mục “chui”
cho hàng chục anh em trong Giáo Phận. Khi được chính quyền địa phương mời ra
làm việc sau sự kiện, Ngài luôn với áo dòng đen bạc màu, tay cầm tràng chuỗi,
một thân một mình ngồi trước nhiều cán bộ. Hỏi tại sao cụ phong chức mà không
xin phép. Ngài trả lời : “Nhiều lần tôi đã làm đơn xin phép, nhưng được trả lời
: để cứu xét, đợi lâu, giáo dân, nhất là những cụ già, đến khóc lóc xin có linh
mục, tôi cầm lòng chẳng đặng, nên vì thương họ tôi phong chức âm thầm. Vì nghĩ
rằng hồi trước giải phóng khi ở Giồng Cát, Bình Trưng (Tiền Giang) vùng chiến
tranh, tôi luôn giúp người nghèo (có cả anh em cách mạng) cơm gạo, quần áo,
thuốc men những lúc cần kíp, tôi cũng không phải xin phép. Cán bộ nhà nước cũng
vui vẻ huề cả làng, dặn dò lần sau cụ đừng làm thế nữa.
Về điểm này, Đức Cha Anrê
đi đầu trong việc phong chức chui. Ngài đã giúp cho nhiều nhà dòng có nhân sự
Linh mục làm việc trong những lúc thiếu hụt linh mục trầm trọng.
Ngày 16-20/03/2006 dịp
Ngài qua đời. Tôi gặp được nhiều phái đoàn các dòng đến kính cẩn viếng Ngài và
kể lể tâm sự với lòng tri ân sâu xa việc Ngài đã làm cho dòng mình.
IV. CON NGƯỜI VỚI NHÂN
CÁCH ĐÁNG TRÂN TRỌNG
1. Con người của cầu
nguyện
Ngài luôn luôn có xâu
chuỗi trên tay, tìm Ngài chỉ vô trong nhà nguyện là thấy ngay. Cầu nguyện là
hơi thở, gặp ai Ngài cũng khuyên siêng năng cầu nguyện, thậm chí khi gặp những
người nhà quê hoặc trẻ em, Ngài dẫn ra nhà nguyện để tập cầu nguyện và cùng cầu
nguyện với Ngài.
Ngài sống theo lời Chúa
dạy “hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn” (Lc 21,35) và dạy mọi người “hãy cầu
nguyện kẻo sa chước cám dỗ, vì tinh thần thì hăng hái, nhưng thể xác lại yếu
đuối” (Mc 14,38)
Khi các cha đến gặp Ngài
trình bày những khó khăn về nhiều phương diện khi phải coi sóc giáo xứ, Ngài
chỉ khuyên cầu nguyện, và Ngài hứa chỉ có thể giúp các cha bằng lời cầu nguyện
và khuyên các cha cầu nguyện liên lỉ, bền lòng, như câu truyện người đàn bà xin
ông quan xét xử, lúc đầu ông không làm, nhưng cuối cùng cũng làm vì bị quấy
rầy. Rất nhiều lần Đức Cha Phaolô đương kim Giám mục của Giáo phận Mỹ Tho, khi
nói về Ngài lúc đã nghĩ hưu. Đức cha luôn xác quyết, nhờ Đức Cha Anrê cầu
nguyện liên lỉ cho giáo phận, cho công việc lãnh đạo giáo phận của Ngài. Đức
Cha Anrê là hỗ trợ tinh thần thiêng liêng của Giáo phận.
2. Sống Khó Nghèo
Áo mặc rất đơn giản, luôn
luôn với tấm áo dòng đen, không bao giờ thấy Ngài mặc đồ “civil”.
Về ăn uống rất giản dị, có
một cha đã kể tôi nghe. Khi Ngài đến ban bí tích Thêm Sức, vì xe trễ, sau bữa
ăn rồi, Ngài lấy ra trong bọc nửa đòn bánh tét, nhờ người ta dọn ra ăn tự
nhiên, Ngài nói trên đường đến giáo xứ, thấy đứa bé tội nghiệp, đã cho nó một
nửa. Các cha kể cho nhau khi dịp đón Ngài, rất khỏe, vì không phải lo việc ăn
uống. Đối với Ngài, việc ăn uống không quan trọng, chỉ là nhu cầu bất đắc dĩ,
có lần Ngài nói : “người ta ai cũng phải chết, nên ăn để chậm chết”. Ngài
thường khuyên các cha đừng uống rượu, bia. Có đấng nại lấy cớ để giao tế dễ
dàng, nên dùng chút bia bọt, Ngài nói : “vô đức bất thành lễ, đa tửu bất thành
nhân”.
Việc chỗ ở nghỉ ngơi càng
đơn giản, lúc Ngài đã làm giám mục. Ngài thường về dâng lễ tại Giồng Cát (khi
không phải đi làm mục vụ Thêm Sức) và ở đây sống rất đạm bạc, nằm giường gỗ
cứng, không đệm, không tiện nghi, lại rất thích, vì có trẻ con quê mùa, ăn mặc
lôi thôi vây quanh, nhộn nhịp vui vẻ…
3. Đơn Sơ
Như trên đã đề cập, Đức
Cha Anrê sống đơn sơ, phó thác mọi sự trong tay Chúa, có tâm hồn chất phác,
thật thà như trẻ thơ.
a. Tin vào Chúa quan phòng
và có tâm hồn phó thác
Bất cứ chuyện gì quan
trọng, khó khăn, phức tạp tưởng như khó có thể thực hiện, Ngài luôn khuyên nhủ
: hãy phó thác và cậy trộng vào Chúa. Năm 1994 tôi xin Ngài xúc tiến phục hồi
họ đạo Thuộc Nhiêu, có nhà thờ từ hồi năm 1945, trên thuở đất rộng 8000 m2.
Trong thời chiến tranh nhà thờ đổ nát, dân chúng tản lạc khắp nơi. Sau năm 1975
người ta chiếm đất nhà thờ canh tác. Được ân nhân giúp đỡ, năm 1994, Ngài và
Đức Giám mục phó Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn, cho tiền đủ để mua lại được
1250 m2 đất. Có đất rồi, xin phục hồi nhà thờ, gian nan vất vả,
khó khăn, suốt 10 năm kiên trì, năm 2004 nhà nước cho phục hồi họ đạo Thuôc
Nhiêu, và ngày 10 tháng 12 năm 2006 Đức Cha Phaolô đã về làm phép nhà thờ mới.
Tạ ơn Thiên Chúa và Tri ân các Đức Cha.
b. Không hình thức
Đức Cha Phaolô Maria
Nguyễn Minh Nhật, nguyên Giám Mục giáo phận Xuân Lộc, nguyên chủ tịch HĐGMVN kể
cho tôi những mẩu truyện sau đây : Khi các Đức Giám mục Việt Nam đi Ad Limina
lần đầu tiên sau ngày HĐGMVN Bắc Nam thống nhất (năm 1990) Ngài nói rằng: Đức
cha Anrê rất đơn sơ, khi sang tận Roma, kinh đô Giáo hội toàn cầu, mà Ngài vẫn
bận đồ rất đơn giản, mặc áo giám mục mà không đeo col trắng, được đức cha nhắc
nhở ngày hôm sau Ngài đeo 2 col cho chắc ăn. Ngài chậm trễ nên Đức Cha Phaolô
Nhật phải nhờ 2 Đức Cha kèm để gọi Ngài đi cho kịp, khi đi gặp các thánh bộ.
Khi đi họp HĐGMVN, Ngài trễ giờ chung, có lần tới giờ cơm, thấy vắng, có Đức
Cha phải lên nhà thờ tìm, Ngài đang lần hạt, cầu nguyện.
Không hình thức, sang hèn,
thế nên về cuối đời nhiều lần Ngài đã nói với tôi : tôi sợ ngỏ lời với Đức Cha
Phaolô, xin cha nói dùm : khi tôi chết cho tôi được chôn cất tại giáo xứ Giồng
Cát, nằm giữa con cái thân yêu, quê mùa và nghèo khó, tôi muốn được chết nghèo,
như đã sống nghèo. Tôi thưa với Ngài : con vâng lời Đức Cha, sẽ trình Đức Cha
Phaolô, nhưng con tin chắc, vì địa phận, chắc chắn Đức Cha và các cha Mỹ tho
không bao giờ làm theo ý muốn của Đức Cha được. Tuy vậy, Ngài vẫn bảo bổn đạo
Giồng Cát, làm đơn lên Tòa Giám Mục đề đạt ý nguyện của Ngài. Tôi cũng được cha
Phêrô Phát (cha sở Bến Siêu) cho biết. Ngài thường trăn trối : khi Ngài chết,
hãy để vào chiếu quấn lại, rồi lấy tre nẹp lại rồi đem vào nơi vắng vẻ và chôn
ở đó… hoặc đem ra cồn mà chôn.
c. Đời sống không màng
tưởng tới tiền bạc
Ai cho gì Ngài vui vẻ đón
nhận, rồi lại quảng đại cho người khác hết. Có cha kể tôi nghe, khi làm nhà
thờ, thiếu hụt, chạy đến xin Ngài cho tiền, chưa giải quyết ngay, Ngài lật sách
Kinh Thánh về đoạn: “Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi tiền
của được, vì hoặc sẽ ghét chủ này mà yêu của kia, hoặc sẽ gắn bó với chủ này,
mà khinh dể chủ nọ” (Lc 16,13). Cắt nghĩa cho nghe đã rồi, dặn dò đủ điều về
việc phải biết sử dụng tiền bạc. Cuối cùng cũng vô ngăn kéo, vét hết tiền bạc,
cả bạc cắc cho cha về xây dựng nhà thờ. Có chuyện khác chính Ngài kể tôi nghe,
Ngài bị lừa, một bà kia ăn mặc sang trọng, gặp Ngài xin xưng tội và xin chúc
lành cho bà trước khi đi nước ngoài đoàn tụ với con cái bằng an, nói chuyện hồi
lâu, bà đưa tặng Ngài 5 cây vàng, để giúp địa phận. Cha con mừng quýnh. Trước
khi từ giã Ngài ra về để lên đường, bà xin Ngài giúp cho 1 triệu đồng để đi về
và thuê taxi ra phi trường. Không nghi ngờ gì, rất tin tưởng, Ngài cho ngay.
Sau đó, Ngài đưa vàng cho cha quản lý, cha đem tiệm thử : là vàng giả. Vì Ngài quá
tin tưởng người ta và chẳng quan tâm gì đến tiền bạc lại sẵn có lòng
thương người, nên rất nhiều lần Ngài bị lừa, bị lấy cắp, bị gạt. Ngay cả với
những con cái, người giúp việc, người có đạo cũng như người ngoại.
d. Cụ Giám mục thật thà,
chất phác
Suốt 24 năm Giám mục, rất
nhiều lần Đức cha Anrê phải gặp, tiếp xúc, trao đổi với nhà nước về những vấn
đề của Giáo phận, được việc như yêu cầu cũng có, bị từ chối luôn cũng nhiều,
hay lắm khi phải chờ đợi lâu, Đức Cha vẫn vui vẻ, luôn bảo chúng tôi phải kiên
trì cậy trông vào Chúa. Chúa có thể làm đựơc mọi sự “không có việc gì mà Chúa
không làm được”. Do đó, tôi nghe nhiều cấp chính quyền địa phương, tỉnh, huyện,
ban ngành khi nói về Đức Cha Nam . Người ta nói một câu đầy ấn tượng, “cụ Giám
mục của các ông rất thật thà, chất phác…”.
Quả vậy, trong thánh lễ an
táng của Ngài 20/03/2006 tại khuôn viên Tòa Giám Mục Mỹ Tho, có nhiều Giám Mục,
đông đảo các linh mục, tu sĩ và rất nhiều giáo dân, có các cấp chính quyền nhà
nước tham dự. Đức Hồng Y Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn, Tổng Giám Mục Giáo Phận
Thành Phố Hồ Chí Minh, đã nói : “Đối với Đức Cha Anrê, Ngài luôn làm vừa lòng
mọi người – cả đạo lẫn đời”.
Đức Hồng Y kể câu truyện
hồi năm 1997 khi nhà nước tỉnh Tiền Giang mời Đức Cha Anrê và Ngài (Giám mục
phó Mỹ Tho) ra trao đổi về việc xin phép lập chương trình tổ chức Năm Thánh
2000. Với những điểm phức tạp, Đức Cha Anrê nói : Hồi trước khi tôi ở Giồng Cát
và Đông Hòa, bao nhiêu lần tôi giúp đỡ cho anh em bộ đội, du kích, cũng như dân
nghèo xung quanh cơm gạo, tiền bạc, thuốc men, quần áo, thậm chí có lần tôi
đang giảng giáo lý sắp làm lễ, nghe tin binh lính chế độ cũ đi hành quân vô Gò
lũy Giồng cát. Lúc đó tôi đang cho một số anh em bộ đội du kích trú ẩn trong
nhà xứ, tôi vội vàng cho anh em ra ngồi giữa lòng nhà thờ, và để người công
giáo ngồi chung quanh và tôi giảng tiếp. Một người sĩ quan hỏi thử một người
ngồi vòng ngoài đọc kinh kính mừng, thấy đọc thông, biết toàn là dân công giáo,
ông bèn xin lỗi tôi và bỏ đi ra. Những trường hợp như vậy, tôi đâu có phải xin
phép ai. Nghe nói vậy, anh em cười xòa và thông qua chương trình nhẹ nhàng.
KẾT LUẬN
“Nhân vô thập toàn”,
Đôi dòng tri ân. Khi tôi
đọc bài viết về những “Chân dung linh mục của các địa phận trong năm thánh linh
mục này, đã đăng trên mạng, tôi hỏi các cha Mỹ tho, mình đã có những vị nào
được viết, được biết đến. Đã có cha viết về về cha Antôn Pezeu, người Pháp, cha
sở Cai Lậy (Tiền Giang) về cha Batôlômêô Nguyễn Văn Thật, cha sở Trà Lư (Đồng
Tháp) chưa có vị nào viết về Đức Cha Anrê ; thế nên được quí cha khuyến khích,
tôi mạnh dạn viết về Đức Cha Anrê. Phần vì tôi được làm việc bên cạnh Ngài khá
lâu, và kế tiếp Ngài ở những Giáo xứ nghèo Ngài đã coi sóc. Tôi viết những cảm
nghĩ trên đây xin gởi đến quý vị trong và ngoài địa phận, như chỉ là một cử chỉ
đền ơn một vị Mục Tủ nhân hậu suốt đời tận tụy cho công việc tông đồ truyền
giáo, hết lòng với giáo phận và hiến dâng tất cả con người của mình cho anh em
đồng bào lương cũng như giáo. Tôi ý thức rõ rằng : nhân vô thập toàn, nói về
những điểm tích cực của mỗi người cũng dễ, nhưng bên cạnh đó cũng còn những
điểm tiêu cực mà ai chẳng có. Vậy đang khi chúng ta trân trọng, quí giá những
đức tính, tư cách của Đức Cha Anrê, chúng ta cũng đừng quên cầu nguyện cho
người Cha mến yêu của chúng ta sớm được Chúa thưởng công nghiệp trong Nước
Trời.
Xin Đức Cha cầu nguyện cho
chúng con.
Mỹ Tho, tháng 3 năm 2010
Lm Antôn Vũ Sĩ Hoằng