Thứ Sáu, 14 tháng 8, 2026

Họ Đạo Búng – Làng Hưng Định: Một thoáng nhìn lại.

 Họ Đạo Búng – Làng Hưng Định: Một thoáng nhìn lại.

1.     Họ Ghe Tám tiền thân của Họ Búng.

Chúng ta cùng đọc lại Chuyên khảo người Công giáo xứ Búng, do Linh mục Louis-Marie Joseph Martin (Nghi), cha sở họ Búng từ 1901 – 1916, viết ra ngày 10 tháng 02 năm 1911:

Vùng đất ngày nay tạo ra họ đạo Búng và Bình Sơn vào cuối thế kỷ 18, xưa kia thuộc về người Chăm (Ciampois). Họ bỏ vùng đất này không trồng trọt vì nước ngập phần lớn, nhưng đất này phì nhiêu nhờ phù sa mà sông Sài Gòn bồi đắp, nên người Việt đã nhận ra và đến cư trú ở đây.

Những người tín hữu đầu tiên đến từ Huế. Những cuộc chiến tranh liên miên trong thời kỳ này ở vùng họ ở, và mọi thứ nhũng nhiễu họ phải chịu đựng trong thời kỳ bách hại, bắt buộc họ phải chọn một nơi yên ổn hơn và có tự do hơn một chút.

 Xứ Búng ở cạnh Lái Thiêu là nơi bạn của Gia Long là Đức Giám mục Adran (Bá Đa Lộc) cư trú, dường như qui tụ đầy đủ những điều kiện như họ ao ước để làm nên cơ sở này.

Ông Hương, Tùng, Bời, Dũi, Ở là những người đầu tiên đến cư trú tại Búng.

Tất cả họ là người (Công giáo) đạo dòng. Họ tụ tập tại nhà ông Bời để cầu nguyện. Để sinh sống, họ chăn nuôi bò và trâu, cũng như nuôi tằm. Sau đó, họ bắt đầu khai khẩn đất đai và trồng trọt, nên sau một thời gian ngắn, họ đã sống tương đối đầy đủ.

Ngôi nhà nguyện đầu tiên được xây dựng chỉ từ thế kỷ 19, và nằm trên phần đất của một người tên Nhờ. Nhưng vì được dựng bằng những vật liệu ít giá trị, nên khi mái tranh bị hư, người ta mới cất một ngôi nhà nguyện khác, tiện nghi hơn, nằm trên phần đất của ông Ràng, và lần này nhà nguyện được lợp bằng ngói.

Trên nơi cao ở xứ Búng có cây sao đẹp. Các người có đạo đã chặt nó xuống để đóng một chiếc ghe và họ dâng tặng cho vua Gia Long. Chiếc ghe này có chiều dài tám tam (tầm ?), nên người có đạo mang tên là Ghe Tám cho đến khi người Pháp đến (khoảng 1862).

Các người công giáo khác dần dần đến cư ngụ ở tại Ghe Tám và tạo ra một số dân có đạo khoảng 300 người; thỉnh thoảng các cha ngụ ở Lái Thiêu đến thăm họ. Vì xứ này chỉ toàn là bụi cây và ít người ở, nên họ không có những người lương theo đạo, và họ lôi kéo bà con và bạn bè của họ đến ở với họ…”.

Qua bài Chuyên khảo của cha Martin (Nghi), giúp chúng ta có cơ sở để truy nguyên về quá khứ xa xưa, khoảng 250 năm hình thành và phát triển của họ Búng.

Lượt lại những điểm chính, ta thấy:

-         Họ Ghe Tám có từ cuối thế kỷ 18, khoảng thời gian từ năm 1750 đến 1799.

-         Những người có đạo lúc ban đầu là các ông Hương, Tùng, Bời, Dũi, Ở và những người đầu tiên đến từ Huế.

-         Họ Ghe Tám kéo dài từ cuối thế kỷ 18 đến khi Pháp thuộc (khoảng năm 1862) và được đổi tên thành họ Búng từ đó.

Thật vậy, coi lại Bảng thống kê các họ đạo ở Đàng Trong năm 1747, của cha Adrien Launay, thì chưa thấy có họ Ghe tám. Đến sau các cha Thừa Sai vẽ bản đồ các Họ đạo ở Đàng Trong và do ngài Solminihac, một nhà Bản đồ học, xuất bản năm 1786 thì thấy có tên Họ Ghe Tám bên cạnh các họ lớn như: Lái Thiêu, Đá Lửa (Tân Triều)…

Bản đồ các Họ đạo ở Đàng Trong năm 1786: 

Nguồn: https://gallica.bnf.fr/ark

Vậy họ Ghe Tám có từ khoảng thời gian nào?

Cha Martin kể lại: “Xứ Búng ở cạnh Lái Thiêu là nơi bạn của Gia Long là Đức Giám mục Adran (Bá Đa Lộc) cư trú, dường như qui tụ đầy đủ những điều kiện như họ ao ước để làm nên cơ sở này”.

Coi lại ta thấy, Họ Gò (Lái Thiêu) từ những năm 1771 đến khoảng năm 1775 là trung tâm Công giáo của giáo phận (phía Nam của Đàng Trong), là nơi cư ngụ của Đức Giám mục Adran (Bá Đa Lộc). Họ Ghe Tám ở gần Lái Thiêu, khi mới hình thành với 05 gia đình, nhưng được các Thừa Sai biết đến và tới lui làm lễ, làm phước và được ghi nhận là Họ đạo với tên gọi là Ghe Tám, mặc dù số nhân danh ban dầu còn rất khiêm tốn.

Cha Martin kể tiếp: “Trên nơi cao ở xứ Búng có cây sao đẹp. Các người có đạo đã chặt nó xuống để đóng một chiếc ghe và họ dâng tặng cho vua Gia Long (đúng hơn là Nguyễn Ánh). Chiếc ghe này có chiều dài tám tam (tầm ?), nên người có đạo mang tên là Ghe Tám cho đến khi người Pháp đến (khoảng 1862).

Vậy những người có đạo dâng tặng chiếc ghe tám cho Nguyễn Ánh khi nào? 

Chúng ta cùng nhìn lại những năm tháng Nguyễn Ánh ở trong xứ Gia Định và đời sống của người Công giáo nói chung tại Gia Định, cách riêng là họ Ghe Tám lúc mới hình thành họ đạo: “Riêng tại Nam Bộ (Gia Định), khi phong trào Tây Sơn chưa lan tới, ngày 22 tháng 4 năm 1774, chúa Nguyễn sau khi chạy trốn vào Gia Định, đã xuống dụ trả tự do cho những tín hữu Công giáo lâu nay bị giam cầm và cho phép đạo được tự do hoạt động. Mục đích của dụ này là nhằm tranh thủ sự ủng hộ của họ và của các thừa sai ngoại quốc để chống lại Tây Sơn. Lợi dụng cơ hội, các thừa sai xuất hiện công khai, sửa nhà thờ cũ, cất nhà nguyện mới. Linh mục Jumilla, dòng Phanxicô, người đã từng ở vùng chiếm đóng của Tây Sơn tại Quảng Ngãi, theo chân chúa Nguyễn vào Sài Gòn, đã xây lại nhà thờ Chợ Quán. Chính linh mục này đã che giấu Huệ Vương và cháu là Nguyễn Ánh khỏi cuộc lùng bắt của Tây Sơn hai năm sau đó. Tại Hà Tiên, theo lời mời của Mạc Thiên Tứ, giám mục Adran thiết lập một trụ sở tại Cây Quao cùng một chủng viện gồm khoảng 40 chủng sinh. “Ý định của Thiên Tứ”, theo Adran, “mặc dù có tính chất chính trị nhưng có thể trở thành có lợi cho tôn giáo. Giám mục có ý thiết lập tòa giám mục trong lãnh địa của họ Mạc nhằm lôi kéo một số tín hữu Công giáo đến đây” (A. Launay, III, trg.66). Cho nên mặc dù sợ chiến tranh lan tới, giám mục Adran vẫn chấp nhận và đã quy tụ được khoảng trên dưới 500 giáo dân Công giáo. Những tín hữu này là những người đã trốn tránh chiến tranh từ Đồng Nai tới vào đầu năm 1776, khi quân Tây Sơn đem thủy quân vượt biển đánh Gia Định và chiếm Sài Gòn lần thứ nhất. Từ năm 1776 đến năm 1783, người dân Nam Bộ phải trải qua một cuộc chiến khốc liệt giữa Tây Sơn và Nguyễn Ánh. Tây Sơn bốn lần tiến đánh, có lần kéo dài suốt bảy tháng và Nguyễn Ánh cũng bốn lần chiếm lại. Chỉ có hai khoảng thời gian tương đối bằng yên là từ năm 1778-1783 và từ 1783-1787, khoảng đầu do Nguyễn Ánh làm chủ tình hình và khoảng sau dưới quyền cai trị của Tây Sơn.

Khỏi cần phải nói, trong thời gian chiến tranh này, số giáo dân bị giảm sút rất nhiều, vì loạn lạc, vì đói khát, vì bị cả hai bên cùng bắt lính. Trong khi đó các sinh hoạt tôn giáo và truyền đạo bị tình hình làm ngưng trệ trầm trọng. Một giáo sĩ đương thời đã mô tả như sau: “Dân chúng bị đè nặng dưới những ách không thể chịu nổi phải trốn chạy và lang thang khắp miền để tránh các luật lệ vừa nhiều lại vừa nặng: họ thay đổi chỗ ở và đổi tỉnh mỗi ngày” (Taboulet, trg. 77).

Trong khoảng thời gian tương đối bình yên lần thứ nhất, lợi dụng việc Nguyễn Ánh thâu phục lại Gia Định vào đầu năm 1778, giám mục Adran dời chủng viện từ Cây Quao về Tân Triều, Đồng Nai, đồng thời tổ chức lại các sinh hoạt tôn giáo tại vùng đất này.” (Theo Lê Văn Khuê - Người Công giáo tại đồng bằng Nam Bộ trong các thế kỷ 17 và 18.)

Với những gì được đọc ở trên, chúng ta có thể ước đoán, những người có đạo ở họ Ghe Tám dâng tặng lên Nguyễn Ánh chiếc ghe tám, qua Đức Giám mục Bá Đa Lộc, không sớm hơn năm 1777 đến khoảng 1780 là năm Nguyễn Ánh xương vương ở Gia Định.

Tóm lại: Nhóm người có đạo sinh sống gần Lái Thiêu vào khoảng năm 1770, đến khoảng năm 1780 thì được gọi Họ đạo với tên là Ghe Tám. Những người đầu tiên đến từ Huế, là gia đình các ông Hương, Tùng, Bời, Dũi, Ở.

Vậy, tuy không đoan chắc điều chi những việc ông bà tổ tiên đã từng trãi qua, nhưng bằng bút tích của cha sở Martin (Nghi), chúng ta hoàn toàn có thể dựa vào đó mà tìm về nguồn gốc, tuy không được chính xác bằng tháng năm cụ thể, nhưng với một quá khứ xa xôi như vậy, thì đó cũng là niềm phấn khởi của những kẻ hậu sinh luôn mong muốn tìm hiểu về gốc tích quê hương xứ sở của mình.

Vậy trong ¼ thế kỷ từ khi hình thành họ đạo đến đầu thế kỷ thứ 19, họ Ghe Tám có được ổn định số nhân danh như lúc ban đầu, hay là tăng thêm, hay là giảm đi vì những ảnh hưởng chung của thời cuộc, chiến tranh liên miên giữa nhà Tây Sơn với Nguyễn Ánh, thiếu vắng linh mục coi sóc, không có người ở các nơi lân cận thêm vào, đất đai còn hoang sơ nhiều. Nhìn chung là không có gì rõ ràng trong giao đoạn nầy.

Cha Martin (Nghi) cũng cho biết nhà thờ đầu tiên của họ Ghe Tám chỉ mới có từ đầu thế kỷ 19. Thật vậy, xứ Ghe Tám thật sự khởi sắc khi cuộc chiến giữa nhà Tây Sơn và Nguyễn Ánh kết thúc vào năm 1802. Nhiều đợt di dân từ các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, Huế… vào lập nghiệp nơi xứ Ghe Tám. Họ nếu không phải là quan binh của nhà Tây Sơn tìm nơi lánh thân thì cũng là những người có đạo tìm nơi đất mới để sinh sống và giữ đạo.

Vậy, công cuộc chiêu mộ thêm dân, khai khẩn thêm đất hoang để mở rộng xứ, khởi xướng xây dựng Nhà thờ đầu tiên có Ban Quới Chức, phân chia ranh giới để lập Làng có Ban Hội Tề với đầy đủ chức phận đã được diễn ra như thế nào?. Mọi việc đã rành rành từ thời vua Gia Long trở về sau.

Ý nghĩa của địa danh Ghe Tám?

Cha Martin (Nghi) viết trong Chuyên khảo người Công giáo xứ Búng về địa danh Ghe Tám: “Trên nơi cao ở xứ Búng có cây sao đẹp. Các người có đạo đã chặt nó xuống để đóng một chiếc ghe và họ dâng tặng cho vua Gia Long (đúng hơn là Nguyễn Ánh). Chiếc ghe này có chiều dài tám tam (tầm ?) nên người có đạo mang tên là Ghe Tám cho đến khi người Pháp đến.”

Tầm: theo sách Từ Nguyên, 1 tầm bằng 8 thước (tương đương 6 feet của Anh), được quy đổi chính xác là 1,825 mét. Theo chú thích của dịch giả Phan Đăng trong Hoàng Việt Nhất Thống Dư Địa Chí năm 1806 của Lê Quang Định, trang 8. Vậy chiếc ghe dài tám tầm tương đương với 10,8 mét.

Trong Đại Nam Quấc Âm Tự Vị, Tome II, trang 333 – Huình Tịnh Paulus Của. Có chú giải mục Ghe Tám: Tên xứ thuộc huyện Bình An (Thủ Dầu Một). Ghe tám bổ.

Ghe tám bổ là loại ghe (thường là ghe độc mộc) có tám bổ chèo (cọc chèo/cột chèo) dành cho tám người chèo nên ghe di chuyển rất nhanh, có nguồn ghi là tám mái chèo thì cũng nhằm. Ngoài ghe tám bổ, còn nghe biết trong dân gian còn có ghe sáu bổ, ghe bốn bổ.

Vậy, tóm gọn lại như sau: Những người có đạo, ở gần Lái Thiêu, chặt một cây sao đẹp trong vùng của họ ở và làm thành một chiếc ghe độc mộc dài tầm 11 mét, có tám cọc chèo, qua Đức Giám mục Bá Đa Lộc, họ dâng tặng cho Nguyễn Ánh và được ngài ban cho hay gọi xứ đó là Ghe Tám.

2.     Xứ Ghe Tám - Làng Hưng Định.

Ông Antôn Nguyễn Thới Linh, cháu 5 đời của ông Bình, người lập ra làng Hưng Định, viết trong Tiểu sử Làng Hưng Định – Họ Búng, xin trích:

“ …song Làng Hưng Định khai sinh sau thời Gia Long phục quốc, là năm 1810, bằng chứng là theo di bút của ông Tính (cháu nội ông Bình) để lại, khi qui dân lập ấp xong xuôi rồi, lập sớ gởi về Kinh xin thần phục và gia nhập Tổng Bình Chánh, với một Ban Hội Tề có đầy đủ chức phận.”

“ song song với việc lập làng, cất công sở ở đất ngoài (Hưng Thọ/ Cầu Ngang bây giờ), thì nơi ấp trong (Hưng Lộc) cũng đang dựng lên một ngôi thánh đường có Ban Quới Chức và tự nhiên người xướng lập lãnh vai ông Trùm”.

Năm 1810, năm Gia Long thứ 9, làng Hưng định thuộc về tổng Bình Chánh, huyện Bình An, phủ Phước Long, trấn Biên Hòa.

Đến năm 1821, năm Minh Mạng thứ 2, làng Hưng Định thuộc về tổng Bình Chánh Thượng, huyện Bình An, Phủ Phước Long, trấn Biên Hòa.

Đến năm 1832, năm Minh Mạng thứ 13, đổi trấn Biên Hòa thành tỉnh Biên Hòa.

Đến năm 1836, vua Minh Mạng cho đo đạc để lập địa bạ Lục Tỉnh Nam Kỳ.

Lúc nầy thôn Hưng Định thuộc về tổng Bình Chánh Thượng, huyện Bình An, phủ Phước Long, tỉnh Biên Hòa.

Nghiên cứu Địa bạ triều Nguyễn – Biên Hòa của Nhà Sử học Nguyễn Đình Đầu, ta thấy phần ghi chép về làng Hưng Định như sau:

Xem thêm về các Làng thuộc tổng Bình Chánh Thượng năm 1836:

Vậy làng Hưng Định được ông Nguyễn Thới Bình lập vào năm 1810, đời Đức Cao Hoàng (Gia Long), trên phần đất có tên là xứ Ghe Tám.

Xem thêm bản đồ địa danh Hành chánh Nam Kỳ năm 1873

Bản đồ các Họ đạo Đông Dương thuộc Pháp năm 1888 của cha Adrien Launay.


1.     Thánh Quí

Thánh Phêrô Đoàn Công Quí

Linh mục tử đạo

Sinh năm 1826 hay là năm 1827

Tại: họ Ghe Tám, về sau là họ Búng.

Thuộc về thôn Hưng Định, tổng Bình Chánh Thượng, huyện Bình An, phủ Phước Long, trấn Biên Hòa.

Con ông Antôn Đoàn Công Miêng và bà Anê Nguyễn Thị Trường

Con cái ông Đoàn Công Miêng cả thảy là sáu người: 5 trai, 1 gái: Phêrô Đoàn Công Thới, Maria Đoàn Thị Bường, Augustinô Đoàn Công Đã, Micae Đoàn Công Rạng, người thứ sáu là Antôn Đoàn Công Báu và người thứ bảy là Phêrô Đoàn Công Quí là hai người sinh đôi.

Ông Đoàn Công Miêng sai con thứ sáu là Antôn Báu đến ở với cha Tám là cha sở họ Búng, hầu dọn mình đi Trường Chung Penang học làm thầy cả. Báu xin trở về, cho em lên thay. Phêrô Quí ở với cha Tám ít lâu, mà bởi Cha này thấy người tài năng, trí khôn sâu sắc, lại thật là nhơn đức, chắc sau này sẽ nên đèn soi cho mọi người tín hữu, thì gởi người cho Đức Cha Gioang (Mgr. Miche), khi ấy còn làm bề trên địa phận Nam Kỳ, lối năm 1847 là năm Đinh - Vị.

Ban đầu Đức Cha để người trong nhà mình mà học cội rễ tiếng Latinh, sau cho người vào nhà trường ông Thánh Giuse tại Thị Nghè, lúc ấy cha Hòa (Père Borelle) làm Bề trên cai trường. Cách ít sau, Đức Cha liệu thế gởi người sang trường bên Poulo-Penang.

Phêrô Quí học tại trường Penang đặng 7 năm từ tháng 01. 1849 đến năm 1855. Lối ngày 11 Avril năm 1855, người về Nam Việt. Tháng 09. 1855 vua Tự Đức ban chiếu chỉ bắt đạo; ngày 07. 06. 1857 một chiếu chỉ gắt gao hơn. Thầy Quí phải lén lút phải lo “hóa huấn người dốt nát, an ủi kẻ trễ tràng”, sai đi họ nọ sở kia, từ Lái Thiêu tới Thị Nghè…

Tháng 09. 1858 Đức Cha Ngãi (Mgr. Lefebvre) phong chức Linh Mục cho thầy. Cha đi giúp họ Cái Mơn, thời cha sở Giuse Tùng, sau đó đi họ Đầu Nước (Cù Lao Giêng), đến trọ nhà ông trùm Phụng. Người ở tại họ Đầu Nước chín mười ngày, thì có hai người ngoại Nguyễn Văn Mưu và Nén, ghét ông lý Phụng nên đầu đơn tố cáo đã ẩn tàng Tây Dương Đạo Trưởng.

Quan thượng Cao Hữu Dựt tỉnh An Giang liền sai nhiều trăm quân xuống bắt. Cha Định (Jean-Claude Pernot) hay tin vội chạy trốn, Phêrô Quí ở lại nhà Câu Phụng dọn đồ sợ kẻo quan lục lấy đặng đồ tây thì làm khốn tài gia củng thiệt hại cho con chiên mình. Cha bị bắt cùng 32 người khác, lúc đó lối đầu canh ba ngày mồng 7 tháng Giêng tây năm 1859, trong số đó có cả ông Câu Phụng. Cha bị giam trong ngục gần 7 tháng.

Trong lúc đó ngày 18.2.1859 Pháp hạ thành Gia Định. Vua đang lúc cuồng giận, hạ chỉ trảm quyết đạo trưởng Phêrô Đoàn Công Quí y án bộ hình Châu Đốc. Sớ vô là ngày 30. 07. 1859 và định xử ngày sau.

Sáng ngày 31. 07 thi hành án cho ông Câu Phụng và Cha Quí. Quan quyền cho tả đao rằng: Hễ dứt ba tiếng chiên, thì phải chém đầu người ba lát. Thằng tả đao liền thúc ké cha lại mạnh lắm, đến nỗi ngực người lòi ra và rướm máu. Bắt Cha quỳ ngay, vén ót, đoạn nó tót gươm ra mà chém. Lát thứ nhứt vừa mới đứt da, lát sau đứt một phần xương ót, lát thứ ba gươm qua gần tới họng. Mà bỡi chưa đứt thì nó lại trở gươm cắt ngược trước họng lại, lúc ấy đầu mới lìa cổ. Xác thánh nằm chính nơi chịu trảm quyết đó từ chín giờ sớm mai ngày 31. 07 cho đến bảy giờ chiều, theo lính quan dạy.

Sau đó tín hữu rước xác cha đem về họ Năng Gù, để một ngày một đêm cho bổn đạo tôn kính, đoạn mai táng trên nền nhà thờ theo lễ phép Hội Thánh.

Đức Giáo hoàng Piô X suy tôn Chân Phước cho linh mục Phêrô Đoàn Công Quí vào ngày 02. 05. 1909.

Ngày 19. 06. 1988, Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II suy tôn linh mục Phêrô Đoàn Công Quí lên bậc Hiển Thánh.

Tên đúng của Thánh Nhân là Quí không phải là Quý.

-         Trong danh sách các Chủng sinh tại Trường Chung Penang năm 1849 – 1850 ghi là Petrus Qui.

 

-         Trong Bảng thống kê các vị tử đạo học ở Penang trước năm 1863 ghi: Petrus  Quí


-         Trong “Le VÉNÉRABLE PIERRE QUÍ” nghĩa là “ Đấng Đáng Kính Phêrô QUÍ”. Bài nầy được viết ra trước khi Thánh Quí được phong Á Thánh do Đức Giáo Hoàng PIÔ X, ngày 02/05/1909.



Ngày Lễ vọng Đức Mẹ Mông Triệu năm 2026.

Tưởng nhớ cố Linh mục Micae Lê Văn Khâm, Cha sở cựu, nhân ngày lễ giỗ (14. 08. 2022 – 14. 08. 2026)

 

 

 


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét