Ẩn thân bên cạnh Chúa Trời, thì hơn tin cậy ở người trần gian. Cậy nhờ thần thế vua quan, chẳng bằng ẩn náu ở bên Chúa Trời. Tv 118

Thứ Ba, 14 tháng 7, 2020

Tại sao người ta lại ghép tên con chim (có cánh, để trứng) với tên cho chuột (có vú, đẻ con) thành tiếng đôi “chim chuột” để chỉ chuyện trai gái ve vãn, tán tỉnh nhau?


AN CHI: Tại sao người ta lại ghép tên con chim (có cánh, để trứng) với tên cho chuột (có vú, đẻ con) thành tiếng đôi “chim chuột” để chỉ chuyện trai gái ve vãn, tán tỉnh nhau?

AN CHI: Hai con vật hữu quan, một con thuộc lớp chim, một con thuộc lớp có vú, tất nhiên không thể” tình tự” với nhau được. Đó là xét về sinh vật học. Còn xét về từ nguyên thì chim chuột cũng không phải là một tổ hợp được tạo ra theo qui tắc cấu tạo từ ghép đẳng lập của tiếng Việt. Nó chỉ là kết quả của một sự dịch nghĩa từ các thành tố của một địa danh Trung Hoa: Điểu Thử Đồng Huyệt (= Chim Chuột Cùng Hang), cũng gọi tắt là Điểu Thử (= Chim Chuột).
Đó là tên một ngọn núi trong dãy Tần Lĩnh, nằm ở phía Tây huyện Vị Nguyên, phủ Lan Châu, tỉnh Cam Túc. Núi này có tên như thế là vì dân chúng ở địa phương đã quan sát được hiện tượng chim chuột ở cùng một hang. Giống chim đó có tên là đồ hoặc mộc nhi chu còn giống chuột đó có tên là đột hoặc ngột nhi thử. Sách Cam Túc chí chép: “Đất Lương Châu có con ngột nhi thử, giống như con chuột, có con chim tên là mộc chi nhu, giống như con sẻ, thường cùng con ngột nhi thử ở chung một hang. Đó chính là (chim) đồ (chuột) đột nhưng chỉ là tên xưa tên nay khác nhau mà thôi”. Vậy con mộc nhi chu, tức con chim đồ, chỉ là kẻ sống nhờ ở hang của con ngột nhi thử, tức con chuột đột. Giữa chúng không thể có quan hệ “tình cảm” hoặc “tính dục” được.
Nhưng cháu mười hai đời của Khổng Tử là khổng An Quốc, khi chú giải Kinh thư, đã giảng bốn tiếng như sau: “Chim (và) chuột cùng nhau làm (con) trống (con) mái (Chúng tôi nhấn mạnh – AC) cùng chung hang sống ở núi này, (vì vậy) mới gọi tên núi là Chim Chuột”. Từ xưa, đã có nhiều người cực lực bác bỏ cách giải thích này của họ Khổng, chẳng hạn như Đỗ Ngạn Đạt và Trương Án đều quả quyết rằng đó không phải là chuyện đực cái hoặc trống mái giữa chim chuột.
Tuy nhiên nhà nho Việt Nam thì lại tin tưởng ở nhà chú giải họ Khổng. Khổng Tử là Đức Thánh thì Khổng An Quốc cháu ngài cũng phải là một quyền uy. Bậc quyền uy này đã giảng rằng “điểu thử đồng huyệt” là chuyện trống mái giữa chim và chuột thì việc nhà nho Việt Nam dịch hai tiếng điểu thử thành chim chuột để chỉ chuyện tán tỉnh, ve vãn giữa trai gái cũng là điều rất tự nhiên.

Kiến thức ngày nay, số 105, ngày 1-4-1993

Thứ Hai, 13 tháng 7, 2020

Gà rán ““hăm-bu-gơ” là món ăn như thế nào mà bài “Con gà trong ngôn ngữ dân gian” (Kiến thức ngày nay, số Xuân Quý Dậu) đã nhắc đến? “Hăm-bu-gơ” là gì?


ĐỘC GIẢ: Gà rán ““hăm-bu-gơ” là món ăn như thế nào mà bài “Con gà trong ngôn ngữ dân gian” (Kiến thức ngày nay, số Xuân Quý Dậu) đã nhắc đến? “Hăm-bu-gơ” là gì?

AN CHI: Đó là tác giả nói theo lời … quảng cảo của “Nhà hàng gà rán hăm bu gơ” trên truyền hình! Còn món hăm-bu-gơ chính cống, tiếng Anh nói ở Mỹ (American English) là hamburger (hæmbɜ:ɡə) thì lại là món Hamburg steak, nghĩa là thịt miếng kiểu đặc biệt của Hamburg, một thành phố cảng nổi danh của nước Đức. Dân Mỹ xem ra không thích nói Hamburg steak nên đã gọi món ăn đó là hamburger. Đây là món thịt bò bằm nhuyễn làm thành miếng rồi nướng lên. Món này thường được cặp vào bánh sandwich để ăn cho nên bây giờ bánh sandwich có cặp miếng Hamburg steak cũng được gọi luôn là hamburger.
Điều oái ăm là sau khi danh từ này ra đời thì người Mỹ không thấy được cấu tạo của nó là hamburg + er mà lại thấy rằng hamburger = ham + burger, vì trong tiếng Anh ham có nghĩa là giăm-bông, là bắp đùi (của súc vật). Do đó burger đã được xem là một hình vị và với “hình vị” này người ta còn tạo ra nào là fishburger (món burger cá), cheeseburger (món burger phó-mát), vv.. Thậm chí có nhà sản xuất như hiệu Moore còn gọi món đặc sản của mình là Moonreburger nữa. Và bây giờ người ta còn có thêm các từ tân tạo, McBurger, Kebab Burger và Kiwi Burger nữa (Xem “Cả thế giới nhai bánh mì thịt McDonald’s”, Kiến thức ngày nay, số 103, tr.94 – 98.)

Kiến thức ngày nay, số 105, ngày 1-4-1993

Chủ Nhật, 12 tháng 7, 2020

Tại sao gọi là “La Hán”? Có tất cả 16 vị hay 18 vị. Xin cho biết tên của mỗi vị.


ĐỘC GIẢ: Tại sao gọi là “La Hán”? Có tất cả 16 vị hay 18 vị. Xin cho biết tên của mỗi vị.

AN CHI: Về hai tiếng La Hán, sau đây là lời giảng của hai tác giả Thích Minh Châu và Minh Chi:
“ Vào chùa Việt Nam, chúng ta thường thấy tượng mưới tám vị đứng gần nhau, mặt mũi trông sắc sảo dữ tợn. Đó là tượng mười tám vị La Hán, vốn là những tên tướng cướp, về sau gặp được duyên may, được giác ngộ quy y theo Phật và chứng quả A La Hán (…) Chùa Tây Phương (tỉnh Hà Tây)(1) có tượng 18 vị La Hán rất độc đáo. Đay là tích mười tám La Hán theo một huyền thoại của Trung Quốc, bởi vì truyện mười tám tên cướp tu thành La Hán xảy ra ở Trung Hoa. (Ba chỗ in nghiêng là do chúng tôi nhấn mạnh – AC). Còn ở Ấn Độ, không thấy nói đến tích này. (2)
Thực ra, các vị La Hán không những không phải là người Trung Hoa mà họ cũng chẳng phải vốn là những tướng cướp, mặt mũi của họ cũng không dữ tợn mà lại nhân hậu và trông rất khắc khổ.
La Hán là dạng tắt của ba tiếng A La Hán mà người Trung Hoa đã dùng để phiên âm tính từ tiếng Sanskrit arhant (Hình thái ở cấp tuyệt đối arhattatma), mà nghĩa gốc là đáng tôn kính, được dùng để chỉ những bậc tu hành đắc đạo dưới hàng Bồ Tát. Tiếng Anh và tiếng Pháp thường phiên thành arhat. Người ta cho rằng La Hán là các vị đệ tử của Phật tuy đã đắc đạo nhưng vẫn sống ở trần gian để tế đọ chúng sinh. Hai tác giả Thích Minh Châu và Minh Chi viết rằng chuyện  mười tám vị La Hán xuất xứ từ một huyền thoại Trung Hoa “còn ở Ấn Độ, không thấy nói đến tích này”. Thực ra các vị La Hán đều mang tên bằng tiếng Sanskrit là một phương ngữ cổ đến mấy nghìn năm của Ấn Độ. Tên của các vị đã được chép trong Pháp trụ ký của Nan Đề Mật Đa La như sau: 1. Tân Độ la Bạt La Đọa, 2. Già Nặc Già Phạt Sa, 3. Già Nặc Bạt Ly Dọa Ám, 4. Tô Tấn Đà, 5. Nặc Cự Đa, 6. Bạt Đà La, 7. Già Lý Già, 8. Phạt Đồ La Phát Đa La, 9. Tuất Bát Già, 10. Bán Thác Già, 11. La Hồ La, 12. Na Già Tê, 13. Nhân Kiệt Đà, 14. Phạt Na Ba Tư, 15. A Thị Đa, 16. Chú Đồ Bán Thác Già. Danh sách trên đây là tên của các vị La Hán mà người Trung Hoa đã phiên âm từ tiếng Sanskrit. Tất cả 16 vị.
Sở dĩ có ý kiến cho rằng tất cả có 18 vị La Hán là vì vào thời Tống, người thích vẽ chuyện đã thêm vào hai tên Khánh Hữu và Tân Đầu Lô mà không biết rằng Tân Đồ Lô chỉ là một dạng phiên âm hơi khác của Tân Độ La (Bạt La Đọa) còn Khánh Hữu thì chỉ là dịch nghĩa của Nan Đề Mật Đa La. Khánh = mừng là dịch nghĩa của Nandi (Nan Đề = người được vui mừng) còn Hữu = bạn là dịch nghĩa của Mitra (Mật Đa La = bạn). Mà Nandi – mitra (Nan Đề Mật Đa La) tức Khánh Hữu chỉ là tác giả của Pháp trụ ký đã nói ở trên chứ không phải là một vị La Hán trong danh sách đang xét. Vậy tất cả chỉ có 16 vị mà thôi.
 

1.     Từ năm 2008 đã nhập vào thành phố Hà Nội
2.     Từ điển Phật học Việt Nam, Hà Nội, 1991, tr.432.

Kiến thức ngày nay, số 105, ngày 1-4-1993

Thứ Bảy, 11 tháng 7, 2020

Xin cho biết vắn tắt sự tích của ông Thần Tài?


ĐỘC GIẢ: Xin cho biết vắn tắt sự tích của ông Thần Tài?

AN CHI: Theo truyền thuyết thì thần tài chính là Triệu Công Minh, người đã sống vào thời nhà Tần, Ông đã lánh đời mà dốc lòng tu tiên  ở núi Chung Nam. Về sau đắc đạo, được phong làm Chính Nhất Huyền Đàn Nguyên Soái, coi việc xua ôn đuổi dịch, cứu bệnh trừ tai. Lại nữa, phàm ai bị oan bị ức đến cầu cứu nơi ông đều được ông giúp làm cho sáng tỏ. Người buôn bán cúng ông để cầu tài cầu lộc cũng được ông giúp cho như ý muốn. Người ta thường vẽ ông thành hình một người mặt đen, râu rặm, tay cầm roi, mình cỡi trên lưng một con cọp đen. Người ta cũng hay vẽ hình ông trên ảnh đăng (một loại đèn cù) và còn gọi ông là Tài Bạch Tinh Quân hoặc Triệu Công Nguyên Soái.

Kiến thức ngày nay, số 105, ngày 1-4-1993

Thứ Sáu, 10 tháng 7, 2020

Có phải mấy tiếng “đôi tôi”, “tôi tôi” là do “thôi nôi” mà ra hay không?


ĐỘC GIẢ: Có phải mấy tiếng “đôi tôi”, “tôi tôi” là do “thôi nôi” mà ra hay không?

AN CHI: Đây là một tục lệ gốc ở Trung Hoa xưa, liên quan đến chữ  , đọc theo âm Han Việt là tối, có nghĩa là tròn năm (vị từ) hoặc đứa trẻ đầy một tuổi (danh từ). Khi đứa trẻ đúng một tuổi, người ta “trắc nghiệm” để dự đoán sở thích và sở trường của nó trong tương lai. Tiếng Hán gọi việc này là “thí nhi” nghĩa là thử con. Người ta bày lên mâm một số đồ vật vừa đồ chơi, vừa đồ nghề, vừa học cụ, vv. để xem đứa trẻ chọn lấy thứ nào rồi căn cứ vào món đồ này mà dự đoán tương lai của nó. Cái mâm đó gọi là tối bàn (mâm đầy năm). Nó được bày biện để thử con đngs vào dịp chu tối, nghĩa là dịp tròn trặn một năm tuổi của đứa trẻ (chu là giáp vòng).
Đôi tôitôi tôi bắt nguồn từ hai tiếng chu tối. Trong tiếng Việt, hai tiếng này dần dần được phát âm thành chu tôi. Tối được phát âm thành tôi y hệt như tín (tức) thành tin (tức), (cân) đái thành (cân) đai, tứ (= bốn) thành , vv.. Nhưng phần đông người bình dân Việt nam thời xưa chỉ biết nội dung và hình thức của lễ thí nhi mà lại chẳng biết hia tiếng chu tôi có nghĩa là gì. Dần dần họ phát âm trại đi thành tôi tôi, Ở đây đã diễn ra một sự  đồng hóa ngữ âm (chu bị tôi đồng hóa) để làm thành một từ láy giả tạo. Nhưng có những người không rõ nguồn gốc của hai tiếng tôi tôi mà lại muốn giả thích nó theo ý của mình. Họ đã dị hóa tiếng tôi thứ nhất bằng hữu thanh hóa phụ âm đầu (t) của nó thành (đ) mà nói đôi tôi nhưng cũng chẳng hề - vì không thể - nói rõ được đôi có nghĩa là gì. Đây chẳng qua chỉ là một sự tái giả tạo một hình thức giả tạo mà thôi.
Đến như thôi nôi, thì đây là một kiểu  refonte (sự soạn lại) hoàn toàn, nhằm giải thích tôi tôi đôi tôi về cả ngữ âm lẫn ngữ nghĩa. Với hình thức soạn lại này, người ta có ý muốn nói rằng tôi tôi đôi tôi chẳng qua cũng chỉ là những lối nói trại âm của thôi nôi và rằng đôi tôi = tôi tôi chẳng qua cũng chỉ là lễ đưa trẻ thôi năm nôi. Người ta đã quên rằng lễ thôi nôi ngày xưa dù có được gọi bằng cái tên mới này, thực chất vẫn cứ luôn luôn là lễ thí nhi, rằng lễ này vẫn cứ phải được tiến hành đúng vào dịp chu tối, rằng phương tiện trắc nghiệm  vẫn cứ là những vật dụng bày biên trên cái tối bàn, nghĩa là cái mâm đầy năm.
Từ những điều trên đây, có thể suy ra rằng thôi nôi chỉ là một hình thức sinh sau đẻ muộn so với đôi tôi, tôi tôi, chu tôi, chu tối mà thôi.

Kiến thức ngày nay, số 105, ngày 1-4-1993

Thứ Năm, 9 tháng 7, 2020

Theo mục Chuyện Đông chuyện tây trên Kiến thức ngày nay, số 101 thì “hoàng tức” là con dâu của vua. Xin cho biết thêm “vương phi” là gì?


ĐỘC GIẢ: Theo mục Chuyện Đông chuyện tây trên Kiến thức ngày nay, số 101 thì “hoàng tức” là con dâu của vua. Xin cho biết thêm “vương phi” là gì?

AN CHI: Vương phi là vợ của thái tử. Thí dụ như trong hoàng gia nước Anh thì Diana là vương phi của thái tử Charles và là hoàng tức của nữ hoàng Elisabeth. Còn trong hoàng gia nước Nhật, Masako Owada là vương phi của thái tử Michiko. Phi, theo nghĩa gốc, là thiếp (vợ lẽ) của vua. Nó còn có một nghĩa rộng là thê (vợ chính) của thái tử, của người có tước vương hoặc tước hầu.

Kiến thức ngày nay, số 104, ngày 15-3-1993

Thứ Tư, 8 tháng 7, 2020

Thỉnh thoảng tôi được thấy trong tranh vẽ của Trung Quốc hình một ông già có chùm râu bạc phơ dài đến rún, lại có một cái trán sói vĩ đại nổi lên trên đầu như hình dáng một quả trứng to quá khổ. Thí dụ, trên bìa 1 của Mỹ thuật thời nay số 28 (Xuân Quý Dậu) có in một bức tranh như thế và chú thích ở trang 3 là tranh “Thần Phúc Lộc”. Có phải đó tức là Thái Thượng Lão Quân không? Và cái trán quả trứng to quá khổ của ông ấy có ý nghĩa gì?


ĐỘC GIẢ: Thỉnh thoảng tôi được thấy trong tranh vẽ của Trung Quốc hình một ông già có chùm râu bạc phơ dài đến rún, lại có một cái trán sói vĩ đại nổi lên trên đầu như hình dáng một quả trứng to quá khổ. Thí dụ, trên bìa 1 của Mỹ thuật thời nay số 28 (Xuân Quý Dậu) có in một bức tranh như thế và chú thích ở trang 3 là tranh “Thần Phúc Lộc”. Có phải đó tức là Thái Thượng Lão Quân không? Và cái trán quả trứng to quá khổ của ông ấy có ý nghĩa gì?

AN CHI: Thái Thượng Lão Quân là tôn hiệu dành cho Lão Tử, người được phái Đạo giáo xem là tông sư. Còn ông mà bạn thấy trong tranh Trung Hoa và trên bìa 1 của tạp chí Mỹ thuật thời nay số 28 không phải là Lão Tử mà cũng không phải là “Thần Phúc Lộc”. Đó là Nam Cực Lão Nhân như đã được khẳng định bằng chính mấy chữ Hán trong tranh in nơi bìa 1 của tờ tạp chí đó: Nam Cực Lão Nhân ứng thọ đồ, nghĩa là “tranh Ông Già Nam Cực đi ban thọ”. Ông ta chính là Ông Thọ. Và Ông Thọ chính là hóa thân của Nam Cực Lão Nhân tinh.
Nam Cực Lão Nhân tinh, tức sao Ông Già Nam Cực, hiện nay chỉ gọi tắt là Lão Nhân tinh, tức sao Ông Già. Sao Ông Già là sao Canopus trong chòm sao Argo, sáng hàng thứ hai sau sao Thiên Lang, tức sao Sirius, trên bầu trời Nam bán cầu. Tuy sáng thua sao Thiên Lang nhưng vì sao Ông Già là ngôi sao sáng nhất ở phía cực Nam của bầu trời nhìn từ mặt đất (Thiên Lang: 16o36’N, còn sao Ông Già 52o40’N) nên người Trung Hoa ngày xưa đã gọi nó là Nam Cực tinh, tức sao Nam Cực. Ở địa bàn nguyên thủy của người Trung Hoa thời cổ đại là lưu vực sông Hoàng Hà (thuộc Bắc bán cầu) thì rất khó mà nhìn thấy được nó. Phải sống rất lâu mới được nhìn thấy nó nhiều lần trong đời. Vì vậy nên người Trung Hoa mới lấy sao Nam Cực làm tượng trưng cho tuổi thọ mà gọi nó là Thọ tinh tức sao Thọ. Tượng trưng hóa như thế xem ra vẫn chưa thỏa lòng, người ta lại tiếp tục nhân cách hóa nó thành Nam Cực Lão Nhân (tinh) = (sao) Ông Già Nam Cực. Sau đó, còn bỏ cả hai tiếng Nam cực vốn là tên nguyên thủy mà chỉ giữ lại có hai tiếng Lão Nhân (tinh) = (sao) Ông Già. Hiện đại Hán ngữ từ điển (Bắc Kinh, 1992) đã giảng hai tiếng Thọ tinh (shòu xing) như sau: “Chỉ sao Ông Già. Từ xưa đến nay dùng làm tượng trưng cho sự trường thọ, gọi là Thọ tinh. Nhân gian thường vẽ thành hình dáng một ông già, đầu dài mà nổi u lên. Cũng gọi là Ông Già sao Thọ”. Nơi tranh bìa đã nói, đi trước Nam Cực Lão Nhân, tức Ông Thọ, là ba chú tiên đồng khiêng một trái đào thọ to bằng thân hình của ba chú gộp lại và ở hậu cảnh, cũng tượng trưng cho tuổi thọ, còn có hình của ba con hạc.
Cái đầu nổi u lên của ông ta có ý nghĩa Đạo giáo sâu sắc. Đạo này cho rằng hành động tính dục có ba mục đích là sự truyền giống, sự thỏa mãn tính dục và sự ngăn chặn quá trình suy lão. Mục đích cuối cùng này lại chỉ là “độc quyền” – vì là bí truyền – của một số đạo sư mà thôi. Những người này cho rằng tất cả mọi lần xuất tinh đều rút ngắn đời người. Vì vậy nên phải cho tinh dịch quay trở về mà bồi bổ cho não để đạt đến trường sinh. Cho nên, trong việc giao hợp, khi phóng tinh thì không được để cho tinh xuất ra ngoài mà phải rút nó từ ngọc hành trở vào để đưa nó lên đến tận não. Chính do diệu pháp này mà các vị siêu đẳng thọ mới có cái đầu nổi u lên như đã nói và đã thấy. Điển hình nhất chính là cái đầu của Ông Thọ. Xin chớ cho đây là chuyện tếu. Ghi nhận quan niệm trên đây, hai đồng tác giả, một người Pháp và một người Trung Quốc là Pierre Huard và Ming Wong đã viết về cái đầu của ông ta và về diệu pháp đó như sau: “Đích thị là vì ông ta có thể đưa lên đến tận óc của ông ta những chất tinh túy gây thụ thai của cơ thể mình và tích lũy chúng tại đó bằng những phép thực hành tính dục rất đặc biệt nên ông ta đã đạt được sức khỏe và trường thọ”. (Theo La médicine chinoise, Paris, 1959,p.19.)

Kiến thức ngày nay, số 104, ngày 15-3-1993