Thứ Tư, 13 tháng 9, 2023
Thứ Ba, 12 tháng 9, 2023
Hạnh tích Tu sĩ Martha Nguyễn Thị Lành
Hạnh tích Tu sĩ Martha Nguyễn Thị Lành
Dòng
Mến Thánh Giá
(1825
– 1883)
Martha Nguyễn Thị Lành
sinh năm 1825, tại Rạch Rập – Chà Và (xưa gọi là Cần Đưng).
Cha là Gioan Nguyễn Văn
Thùy, mẹ là Maria Phan Thị Mùi.
Năm 1847, xin cha mẹ cho
đi tu.
Vào Dòng Mến Thánh Giá
Cái Mơn, nhà dòng mới lập từ 5 năm trước.
Năm 1848, chị Martha Lành
tuyên hứa theo luật dòng.
Năm 1851, Đức cha Miche
(Mịch) đặt làm bề trên đầu tiên của Dòng Mến Thánh Giá Cái Mơn.
Bước vào cơn thử
thách tôi luyện tinh thần.
Năm 1858, ngày lễ Đức Mẹ
Vô Nhiễm, cha Giuse Tùng vừa dâng Thánh Lễ (Lễ Bổn mạng Nhà Dòng) xong, các chị
em đang ăn sáng, chú Thân và ông Câu Đoài chạy vào cho hay lính đang bao vây,
Dì Miều ngó ra cửa thì lính đã ập vào nhà, trong nhà hiện có 18 chị; lính lục
soát khắp nơi, đang khi ấy Bà Lành bảo chị em trốn thoát ngay, còn lại Dì ngọ
và Dì Miều nhất định ở lại với Bà Nhứt Lành. Sở dĩ họ đến đây vì có người báo
cho biết có vị Đạo trưởng ở đây! Sau khi tìm kiếm khắp nơi mà không gặp vị đạo
trưởng nào cả, họ quay ra bắt Bà Lành, Dì Ngọ và bốn người bổn đạo ở gần đó (Dì
Miều theo ý Bà Lành phải trốn đi). Nhà Dòng bị tịch biên tất cả. Ông Huyện Ba
Vát truyền trói tất cả lại bắt mang gông giải đến tỉnh Vĩnh Long.
Tại công đường tỉnh Vĩnh
Long, Bà Lành và Dì Ngọ bị tra tấn khủng khiếp, quan tỉnh đặt Thánh Giá xuống đất
và buộc họ phải bước qua (quá khóa), nhưng tất cả cương quyết không làm chuyện
xấu xa đó và vì thế hai dì nầy liên tiếp bị tấn đòn, roi bằng dây da đầu bịt sắt
mỗi roi quất vào thấu tận xương, Dì Lành có lần bị đánh đến 200 roi, máu thịt
dính vào quần áo ướt đẫm hết cả! Phần Dì Ngọ chịu đòn đến ngất như đã chết.
Quan tỉnh ra lệnh kéo xác Dì Ngọ qua cây Thánh Giá, lạ thay khi lính kéo vừa đến
cây Thánh Giá, Dì Ngọ tỉnh lại tay ôm lấy cây Thánh Giá và la to: “Kính lạy Đức
Chúa Giêsu, kính lạy Thánh Giá”. Điều làm cho người ta ngỡ ngàng là các vết
thương không làm độc, mỗi khi chịu tra tấn về lại ngục hai Dì phước chỉ tha dầu
dừa mà thôi. Tại nhà ngục hai dì luôn bình tĩnh cầu nguyện các bổn đạo cùng chịu
lao tù vì Đạo Thánh Chúa, thấy gương đạo đức của hai tu sĩ đáng kính nầy cũng
được nâng cao tinh thần. Người cai ngục tuy không Công giáo mà lòng nhân đạo
cao coi thường lệnh quan, tối mở trói bỏ gông cho họ, lại để cho thân nhân đến
thăm nuôi tử tế, nhờ vậy mà các linh mục đến thăm ban bí tích giải tội và Mình
Thánh Chúa cho những tù nhân vì đạo ở đây. Tổng Trị tìm hết cách để làm tội người
Công giáo.
Ngày giải thoát lại
đến.
Quân Pháp đánh chiếm xong
Sài Gòn, Biên Hòa, Bà Rịa – Vĩnh Long đang chuẩn bị chiến đấu một trận với quân
Pháp (tháng 02. 1862).
Trong ngục các tù nhân có
đạo bị xiềng và đóng gông! Bên ngoài Tổng đốc Trương Văn Uyển, Lãnh binh Tôn Thất
Thoan, quân thứ Văn Uyển và Lê Đình Đức Bố chánh, không chống cự nổi bèn nổi lửa
đốt dinh trại bỏ chạy! Quân Pháp thấy lửa cháy đổ bộ lên bờ và cứu thoát được
các tù nhân Công giáo trong ngục! (x. Quốc triều chính biên, nhóm Nghiên cứu
lịch sử Sài Gòn 1971 trang 319 và Hoàng Việt Giáp Tý Niên Biểu của Nguyễn Bá Trác, Tủ sách Viện khảo
cổ số IV Sài Gòn 1937 trang 343 ghi:
30.01.1862 Nhâm Tuất – Tự Đức năm 15 “Đại Pháp lấy Vĩnh Long”.)
Bề trên Cái Mơn,
Cái Nhum và Chợ Quán
Ra khỏi ngục trở về nhà
Dòng MTG Cái Mơn còn được 12 người do Dì Trình ở nhà săn sóc chị em, khởi sự cất
nhà lại cho Tu viện Cái Mơn.
Năm 1864, Đức Giám mục cử
Bà Lành sang chỉnh đốn lại Dòng Mến Thánh Giá Cái Nhum, hai năm sau đó, Đức
Giám mục cử Bà Lành đến làm Bề trên Dòng Mến Thánh Giá Chợ Quán, khi mọi sự ổn
định vừa đi dạy giáo lý mà vừa là Bề trên Nhà Dòng Chợ Quán cho đến khi mãn nhiệm
1873.
Cha Galy (Lý) mời Bà Lành
đến dạy giáo lý cho gia đình thầy Ngươn ở Bà Điểm. Tại đây có một bé gái mắc bệnh
tà ma, qua nhiều thầy pháp, bùa ngãi, uống đủ thứ thuốc mà không khỏi. Bà Lành
đến thăm và cầu nguyện sau đó đứa bé khỏi bệnh. Cha nó là ông Xã Thiện và cả
gia đình xin học đạo.
Bà Lành cùng với nhóm
truyền giáo Hóc Môn gồm có: Thầy Phong, Phiên, Quờn, Phan và Vịnh cùng với Bà
Lành, gồm các địa sở Tân Hưng, Tân Đông, Mĩ Huề, Bà Điểm, Hóc Môn, Rạch Dứa, Bến
Cỏ, Bến Nẩy, Bàu Tre, Gò Ngãi, Mỹ Khánh,
Suối Cụt cho tới Rạch Gốc. Bà Lành lo cho Rạch Gốc, nhóm truyền giáo nầy do Cha
Gabriel Thành lãnh đạo tại Hóc Môn.
Nhờ ơn Chúa tác động nơi
tôi tớ dịu hiền của ngài, kết quả đem lại nhiều giáo hữu sốt sắng và tân tòng
nhiệt tâm học đạo chịu phép Rửa tội.
Xong việc ở giai đoạn
truyền giáo, Bà Martha Lành về lại Cái Mơn với tư cách là một tu sĩ bình thường
của Dòng, tại đây Bà Lành giúp lập họ Giồng Luông và Cái Cá. Công việc đang tiến
triển khả quan, bổn đạo vùng Tân Hưng xin Đức Giám mục cử Bà Lành trở lại với
vùng Hóc Môn, thật thì tại vùng đất mới hạt giống đức tin cần được chăm lo –
người truyền giáo phải tận tình và đạo đức mới nêu gương sáng cho giáo hữu.
Giai đoạn cuối đời
của Bà Martha Lành.
Đức Giám mục Địa phận cử
Bà Lành trở lại Tân Hưng, lần nầy bà đã cao tuổi, những vết thương còn lại trên
thân thể làm cho bà không thể đứng ngồi được lâu nữa, tuy vậy không khi nào Bà
từ chối việc dạy giáo lý và thăm viếng bổn đạo khi họ cần đến Bà. Lòng Bà
thương mến họ và đáp lại bổn đạo cũng mến thương Bà như người mẹ với con cái.
Ngày Chúa gọi Bà Martha
Lành về quê thiên quốc đã đến. Bà qua đời ngày 08. 05. 1883.
Bà được bổn đạo Tân Hưng
an táng đơn sơ trong tình mẹ con đậm tình thương tiếc.
Lời chúa: “Ai lớn nhứt
trong các con hãy ở như người bé nhỏ và kẻ làm đầu thì hãy lo hầu hạ anh em
mình” (Luca 22, 27).
Năm 1984, Dòng Mến Thánh
Giá Chợ Quán cải táng hài cốt về Nhà Dòng Chợ Quán.
“Ghi lại theo Kỷ yếu
Tam Bách Chu niên từ khi Dòng Mến Thánh Giá 1670 – 1970” (Dòng MTG Cái Mơn,
trang 37; Dòng MTG Chợ Quán, trang 21 và Tiểu sử Bà Nhứt Martha Lành trang 55).
Nam kỳ Địa Phận năm 1917
– Lịch sử họ Hóc Môn và Tân Hưng số 449 trang 565 và số 454 tráng 674.
“Phaolô gieo vãi, Apolo
săn sóc; Thiên Chúa làm cho đồng ruộng sinh sôi nẩy nở bông trái”
Nguồn:
“Sưu tập các Họ đạo cổ xưa của Sài Gòn”, của Lêô Nguyễn Văn Quí.
Họ Chợ Đũi
Họ Chợ Đũi
I.Gốc
lập họ
Khi binh Langsa lấy thành
Sàigon là lối năm 1859, thì nhiều bổn đạo mấy nơi khác trốn cho khỏi quan cựu bắt
bớ, nên đến ở xung quanh Saigon cho gần người Langsa hộ vực. Vậy có nhiều kẻ tới
ở phía tây nam thành Saigon cùng làm nên một xóm có đạo kêu là họ Chợ Đũi. Khi ấy
Đức cha Đôminicô (Mgr. Lefèbvre) thấy số bổn đạo ở đó khá đông, nên đã cất một
nhà thờ, cùng giao cho cha sở họ Chánh Saigon coi luôn họ Chợ Đũi. Người ta nói
hồi đó số bổn đạo quá ngàn người, ở lải rải xung quanh chỗ đất bưng kêu là
Marais Boresse.
Sau lần lần các nơi đâu
đó đặng bình an, không còn sợ bắt bớ vì đạo nữa, nên có nhiều kẻ trở về xứ sở
mình; còn những kẻ ở lại, hoặc là có xin khẩn đặng đất, hoặc là cất nhà cữa ở tạm
đó thì không được bền, vì hễ khi nhà nước làm đàng sá sửa sang thành phố lại
phía đó chỗ nào, thì đuổi mấy nhà không cho ở nữa.
Vậy những bổn đạo đã tới ở
gầy nên họ Chợ Đũi đây, khi ấy hết thảy có được đạo hạnh tử tế chăng? Chắc thật
là phần nhiều tử tế mà cũng có phần nguội lạnh trễ nải, vì nhiều kẻ nghèo nàn
phải đi làm thuê làm mướn mà độ nhựt, cùng là những kẻ rối vợ chồng, cho nên
sinh cớ trễ nải là vậy.
II.
Các Cha coi họ
Ban đầu thì cha sở họ
Chánh Saigon cai luôn họ Chợ Đũi như nói ở trên, sau nầy thì mấy cha Annam ở họ
Cầu Kho coi họ nầy, cho tới đời Đức cha Mỷ (Mgr. Comlombert) thì Đức cha mới đặt
một cha tây làm cha sở ở quyết tại họ Chợ Đũi.
Các cha tây và annam đã
coi họ Chợ Đũi là mấy cha nầy: Cha Thiện (P. Oscar de Noioberne) từ năm 1859 tới
năm 1871; Cha Lành (P. De Kerlan) từ năm 1871 tới năm 1874, hai cha nầy là cha
sở họ Chánh Saigon. Kế đó, cha Khoa từ năm 1874 tới năm 1876; cha Nhi từ năm
1876 tới năm 1882, là hai cha sở ở họ Cầu Kho. Sau đó thì có mấy cha tây làm
cha sở tại họ, là cha Mão (P. Mossard) là Đức cha bây giờ, coi họ ấy từ năm
1882 tới năm 1887; cha Quang (P. Clair) từ năm 1887 tới năm 1891; cha Gẫm (P.
Renier) từ năm 1891 tới năm 1899; cha Lương (P. Lambert) từ năm 1899 tới năm
1916.
Cha Dư, cha Nhu, cha
Hoàng (P. Frison); cha Tôn (P. Quinton) Đức cha phó bây giờ và cha Nhượng, cũng
có thế đỡ coi họ Chợ Đũi một ít lâu.
Hồi mà chưa có cha sở ở
quyết tại họ, thì có nhà thờ bằng lá mà thôi. Tới khi cha Mão làm cha sở họ nầy,
thì đã xin khẩn được ba miếng đất nhỏ, cùng cất nhà thờ lại bằng ngói, cũng cất
nhà cha sở và trường học nữa. Sau đó cha Quang cất một nhà cha sở khác xứng vừa
hơn, lấy nhà cũ làm trường học cho đồng nhi, cùng làm chỗ cho mấy dì phước
annam ở mà dạy học. Cha cũng lo lập việc thánh Hài đồng, cùng lo gở rối cho nhiều
đôi vợ chồng đạo ngoại ăn ở với nhau, cho nên hễ một đàng trở lại thì đàng nọ
phải vô đạo, nhờ vậy mà cha đặng rửa tội cho kẻ lớn nhiều.
Khi cha Gẫm làm cha sở họ
nầy, thì đã cất một nhà lá để lo về việc thánh Hài đồng, mỗi năm cha rửa tội đặng
cho nhiều con kẻ ngoại và số tăng thêm luôn. Trong đời cha nầy thì họ Chợ Đũi
đã xin khẩn đặng nhiều đất rộng lớn đặng có chỗ cho bổn đạo ở, và lấy huê lợi
những đất ấy để giúp sở phí trong việc họ và trường học. Trong năm 1902 thì nhà
thờ đặng thêm một miếng đất khác nữa, làm của chung trong họ.
Qua năm 1904, làng Tân
Hòa (Chợ Đũi) nhập về thành phố Saigon, cho nên không thể mà giữ việc thánh Hài
đồng nữa, thật là sự đáng tiếc, vì số rửa tội cho con kẻ ngoại mấy năm sau hết
đó mỗi năm đặng hơn 150 linh hồn.
Tới năm 1900, nhà thờ hư
phải lo làm lại, cha sở không biết phải lấy tiền đâu mà làm. May đâu nhờ ơn
Chúa xui khiến, cho nên cựu cha sở Chợ Đũi là Đức cha Mão đã lo lắng và nhờ
lòng rộng rãi của ông Lê Phát Đạt, nên mới xây dựng đặng một nhà thờ cao lớn tốt
lành như thấy bây giờ đó. Cha Thiết (P. Boutier) khi ấy là sở Saigon, đã đứng
lãnh lo coi các công cuộc và nói đặng nhà thờ nầy là việc nhứt hảo của người
làm.
Vậy họ Chợ Đũi cũng như mấy
họ khác ở xung quanh Saigon, là từ sơ khai tới bây giờ thì đặng sự bình an
luôn, cho nên bổn đạo đều đặng giữ đạo thong thả, khỏi lo sợ sự gì, mà về sự lo
lắng khuyên lơn cho kẻ ngoại giáo ở xung quanh noi theo đàng chánh mà trở lại đạo
thì không có mấy người giáo hữu lo tới.
Trong họ có lập hai nhà
trường cho đồng nhi nam nữ và nhà cho mấy dì phước annam ở đặng dạy học, sở phí
về hai trường, về tiền lương cấp cho thầy giáo và mấy dì thì lấy của chung nhà
thờ.
Số bổn đạo trong họ được
1200 người.
Bây giờ thì cha Phước (P.
Poitier) làm cha sở họ Chợ Đũi.
N. K. Đ. P
Nguồn:
“Sưu tập các Họ đạo cổ xưa Sài Gòn”, của Lêô Nguyễn Văn Quí.
Thứ Ba, 20 tháng 12, 2022
Hạnh tích Bà Anê Linh - Cựu Bà Nhứt Nhà Phước Chợ Quán
HẠNH
TÍCH BÀ ANÊ LINH, CỰU BÀ NHỨT
Nhà
phước Chợ Quán
---------------------
Hôm ngày 12 tháng Juin, lễ
Đức Chúa Trời Ba Ngôi, Bà Anê Linh, cựu Bà nhứt nhà phước Chợ quán qua đời, hưởng
thọ đặng 63 tuổi, khấn hứa trong dòng đặng 41 năm, làm Bà nhứt đặng 6 năm.
Anê Linh sinh ra năm
1864, tại họ Búng, thuộc hạt Thủ dầu Một. Cha mẹ là người đạo đức, sinh đặng sáu người
con, Anê là con thứ năm. Từ nhỏ đến 10 tuổi, Anê ở cùng cha mẹ lo học hành kinh
sách. Đến 10 tuổi, cha mẹ cho vào ở nhà phước Chợ quán. Lúc đó dì ruột của Anê
là Bà Maria Hòa đang làm bà nhứt nhà phước Chợ-quán. Tuy lòng thương cha mến mẹ,
song Anê cũng vui dạ vưng lời, từ tạ cữa nhà vào ở với dì. Đó linh hồn ấu nhi
còn trong sạch, Chúa mau mau đem vào giấu ẩn trong nhà người, cho khỏi vương phải
bụi tro trần thế!
Anê sáng trí lại tánh
tình nết na hiền hậu, biết vưng lời chịu lụy. Anê lo học hành đạo lý, đến 12 tuổi,
thì Anê rước lễ vở lòng. Âu là ngày ấy, Chúa đã tuôn các ơn thánh vào lòng trẻ
nhi nầy, cũng làm cho trẻ ấy nhứt quyết dưng mình cho Chúa ngày sau.
Từ đó về sau, nhờ gương
lành cùng lời dạy dỗ của dì là Bà Maria
Hòa, thì Anê quyết định từ bỏ cuộc đời, vào nhà viện tu, làm tôi Chúa cho đến
cùng. Vậy năm 1880, thì Bề trên cho phép Anê nhập dòng, vào hàng các chị. Lúc
đó Anê đặng 16 tuổi. Mười sáu tuổi là lúc thiếu nữ nhi đang kiếm tìm cuộc thế,
những lo trau tría làm tốt đêm ngày, những lo cho gặp gỡ chỗ giàu sang mà gởi
thân, thì Anê quì trước bàn thánh, đành lòng tự ý dưng trót thân mình cho Chúa.
Ấy là ngày phước lộc cho Anê, là ngày Anê đã chọn phần nhứt mà chẳng ai cất lấy
đặng!
Từ ngày Anê bước chơn vào
nhà các chị, thì Anê càng nên sốt sắng. Bề ăn học thì trổi xa chị em chúng bạn;
còn bề nhơn đức thì rất rạng ngời: nết na đầm thấm, nhịn nhục hiền lành, vưng lời
chịu lụy, cùng làm trọn các việc người ở nhà tập mình. Tỉ như cây kia, trồng
nơi đất tốt, nên rất chóng mau trổ sinh bông trái.
Ngày lụn tháng qua, dựa
nơi bóng đền thánh, khuya sớm lo một đều khắc kỷ tu thân, giữ trong luật nhà, tập
rèn các nhơn đức, cho xứng sau nầy khấn hứa trong dòng. Vậy năm 1886, Anê đặng
Bề trên cho khấn hứa ba đều theo phép dòng. Ngày đó Anê đã thề hứa, dưng trót
thân mình cho Chúa, giữ lòng trinh khiết, vưng lời chịu lụy khó khăn cho đến
hơi thở sau hết. Mà thật, Anê đã đặng phước giữ lời hứa ấy cùng Chúa. Khấn hứa
vừa xong, Bề trên sai Anê với dì Anê Quế đi dạy tại họ Gò công trước hết, vì
lúc đó họ Gò công mới khởi tạo, chưa có cha ở. Mỗi tuần có cha Gioakim Lịch ở
Tân An xuống làm lễ một lần. Gò công khi ấy thuộc về sở Mỷ tho, đời cha Linh
(Moulin) làm cha sở. Anê dạy tại đó đặng sáu tháng, khi trở về, Bề trên dạy phải
ở lại nhà phước mà giúp việc trong nhà. Lúc ấy Anê càng rạng tài đức, cùng như
mặt trời càng lên cao thì yếng sáng càng chói giọi. Phận sự kẻ ở nhà Chúa, Anê
giữ rất trọn hảo; việc trong nhà, Anê khéo tay bày biểu. Bề trên thấy Anê đủ
tài đức, thì chọn lên coi sóc các chị áo trắng. Coi nhà áo trắng, là một việc rất
can hệ cùng trọng nhứt trong nhà dòng, vì đó là nơi để tập luyện cùng dạy dỗ những
kẻ sau đây sẽ khấn hứa trong dòng. Nếu kẻ làm đầu khéo dạy dỗ; biết tập rèn,
thì mai sau trong dòng sẽ có người lịch lãm đức hạnh, trọn niềm việc bổn phận kẻ
ở nhà Chúa. Lại nữa cũng là việc rất khó, vì kẻ làm đầu phải thông thạo trong
đàng trọn lành, phải có lòng hiền lành nhịn nhục thì mới lo kham việc trọng nầy
đặng. Lòng đạo đức cùng sự khôn ngoan là hai đều rất cần cho kẻ coi sóc nhà tập
mình.
Hai đều nầy Anê đã giữ rất
trọn: trong 25 năm, Anê coi nhà áo trắng, thì ai ai cũng thấy rõ lòng đạo đức
và sự khôn ngoan của Anê. Các đấng Bề trên coi nhà phước và những đấng coi sóc
linh hồn Anê, đều rập một tiếng mà khen lòng đạo đức Anê cùng sự khôn ngoan
phân xử cùng chỉ dẫn trong đàng trọn lành cho các chị noi theo. Ai nói cho đặng
những ích thiêng liêng Anê đã làm cho các chị trong nhà tập mình trong dòng 25
năm đó, rày nhiều kẻ còn sống cũng chứng miệng sự ấy.
Anê chẳng những lãnh việc
coi sóc các chị, mà lại làm thơ ký cho Bà Nhứt, phụ giúp các việc trong nhà.
Nói đặng khi đó Anê là cách tay mặt của Bà Nhứt. Song Anê chẳng cậy tài, cũng
chẳng ỷ thế, lại càng thêm khiêm nhượng, càng mến yêu chị em cùng tận tình giúp
đỡ. Bỡi đó chẳng những các chị áo trắng mà hết thảy ai ai trong nhà cũng đem
lòng mến thương kính phục.
Anê có trí lại có tài,
khéo tay bày vẽ nhiều đều hữu ích cho nhà dòng. Chẳng những là lo dạy các chị học
hành, đánh đờn, tập hát, mà cũng bày cách sinh lợi cho nhà dòng: như làm bông,
và may thêu dệt đồ lễ. Trong các nghề ấy, nghề nào Anê cũng rành rẻ, nên nói đặng
rằng: Anê sống ở đời lấy đức làm gương cho chị em noi đòi bắt chước, lấy tài mà
sinh phương chi độ cho nhà dòng no lòng ấm cật.
Anê vốn phần xác thì yếu
đuối, thầy thuốc đoán không thể sống lâu đặng, song nhờ ơn Chúa, Anê hưởng thọ
đến 63 tuổi! Tuy xác thì yếu đuối bịnh hoạn, song trí lòng rất mạnh mẻ, như ta
sẽ thấy các việc Anê làm sau nầy.
Năm 1915, Anê bịnh nhiều,
nên xin thôi việc coi sóc các chị áo trắng. Lúc đó Bề trên mới giao việc nầy
cho Dì Annà Nên. Từ đó Anê đặng nghỉ ít lâu, qua năm 1916, nhà phước tính sửa
nhà lại cho có chỗ các dì ở, Bề trên liền giao việc ấy cho Anê. Vậy Anê ra tay
chỉ vẽ cho thợ cùng coi làm công việc cho toàn hảo. Công việc vừa xong, Anê vô ở
trong Gò vắp, tại đó nhà phước Chợ quán có lập một nhà Hài đồng, để nuôi con
nít. Ở đó ít ngày, Anê liền ra tay sửa lại, sắp đặt cho đâu đó sạch sẽ vén
khéo, nào nhà dì, nào nhà Hài đồng, đều cất lại mới hết. Anê cũng phụ cùng cha
sở và bổn đạo họ Gò vắp mà cất thánh đàng lại.
Ở đó đặng một năm rưỡi,
tưởng là an phận, hay đâu ý Chúa nhiệm mầu, định dùng Anê trong việc khác. Vậy
năm 1919, lúc các dì chọn bà nhứt, thì ai ai cũng đồng chọn Anê lên lãnh việc
coi sóc nhà phước. Ai nấy vui mầng vì đặng một người xứng đáng làm đầu coi sóc,
có một mình Anê thì buồn bã khóc lóc đêm ngày, đến đỗi muốn trốn vào dòng khác
cho khỏi gánh nặng ấy. Song bỡi Anê có lòng nhân đức, thấy rõ là ý Chúa, nên
cúi đầu vưng phục.
Mội phen làm Bề trên thì
Bà Anê rất ân cần lo lắng cho ai nấy trọn việc bổn phận. Người rất thẳng thép
và nhặt trong sự gữ luật nhà. Bỡi Bà Anê hiểu biết, sự trọn lành kẻ ở nhà Chúa
là ở tại sự giữ luật phép nhà cho chín chắn. Lại người cũng rõ phận sự đấng bề
trên, là lo ai nấy trong nhà nên trọn lành, và mai sau phải trả lẽ rất nghiêm
nhặt về sự ấy nơi tòa Chúa phán xét. Bỡi đó, người chẳng tày vị ai, một lấy sự
công bình và luật phép nhà mà phân xử các việc. Nhứt là Bà Anê rất khôn ngoan
trong lời nói, biết giữ sự kín kẻ khác. Bề khôn ngoan, cách phân xử khi gặp
khó, thì Bà rất khôn khéo, biết châm chế cùng tùy lúc tùy khi, lo cho các việc
đặng an bài. Bỡi đó lớn nhỏ trong dòng đều kính phục đức tài của bà.
----------------------
Bà Anê cũng tu bổ nhà phước
lại lo cho đâu đó sạch sẽ vển van. Cất một nhà cho con nít ở, làm lại nhà
khách, sửa lẫm lúa. Bỡi người khéo biết ở đời, nên nhiều người giàu có cũng đem
lòng thương mến. Nhờ đó nhiều người dưng cúng ruộng đất để giúp việc nhà dòng;
kẻ khác thì chịu tiền làm vách thành nhà phước cùng xây vách đất thánh, làm mồ
lại cho các dì đã qua đời. Nhờ Bà Anê dốc công cùng biết kiếm của, nên đã xây
thêm một nhà từng rất rộng rãi, để cho các chị áo trắng ở. Khi lên làm bà Nhứt,
thì Bà Anê soạn sổ sách các ruộng đất của nhà phước, lo đâu đó cho đành rành, sắp
đặt cho có thứ lớp. Thấy đó mới rõ tài người, bỏ qua phía nào cũng xuôi hết.
Trong dòng mà đặng một người như vậy thì rất nên là quí báu!
Qua năm 1925, Bà Anê làm
Bà Nhứt đặng trọn sáu năm, theo luật hội thánh mới ra, hễ đủ sáu năm thì phải
thôi, để cử người khác. Vậy các dì chọn Bà Anê làm bà nhì, đó là việc bà làm
cho đến chết.
Năm đó Bà Anê Linh khỉ sự
đau bịnh ho, cách ít tháng sau thì thổ huyết. Trong lúc đó ai cũng tưởng Bà phải
lìa thế, song ngày giờ Chúa định chưa tới, còn phải ở lại ít lâu, làm cho thành
công việc Chúa phú.
Vậy Bà vô Chí hòa, tạm
nghỉ ít lâu, nhờ cha sở họ Chí hòa tận tình thuốc men phụ dưỡng, nên Bà đặng
khá lại. Vừa khá lại, thì đầu năm 1926, khởi sự cất nhà cho các chị áo trắng ở.
Bà Anê Linh phụ lực với cha coi nhà phước, quí danh là cha Laurent Bính, chánh
sở họ Chợ quán, mà lo bày vẽ các công việc. Dầu đã yếu đuối bịnh hoạn, song hằng
ngày những theo coi công thợ, chỉ vẻ cho nó làm, nên nhà đã chắc chắn, lại công
việc rất mau rồi. Trong lúc coi làm nhà áo trắng, thì Bà ra huyết lại đôi phen,
song bà chẳng kể sau, một cứ việc làm như thường bữa.
Nhà áo trắng vừa xong, ăn
lễ lạc thành vừa rồi, thì khởi sự sửa nhà thờ lại cho có chỗ đủ cho các dì xem
lễ đọc kinh, vì nhà thờ đã chật. nhơn số kẻ vô nhà phước một ngày một đông. Nên
phải làm thêm một chái nhà bên hông nhà thờ, luôn tiếp với nhà mới cất cho các
chị áo trắng, như vậy người bịnh liệt cũng dễ bề xem lễ đặng, vì nhà thương
cũng luôn theo một phía đó. Còn phía trước nhà thờ thì thêm một căn và làm một
từng đờn cho các chị hát. Luôn dịp cũng sơn phết nhà thờ lại, Bà Anê lãnh coi
các việc; đó chẳng phải lần đầu, vì chăng mấy năm trước, bà đã sửa trong cung
thánh, làm lại phía sau bàn thờ cho rực rỡ, đặt bôn đúc, để ảnh Đức Mẹ, đặt đèn
khí. Phen nầy Bà Anê cũng tận tâm lo sửa soạn nhà Chúa cho xứng nơi Chúa ngự, dầu
tốn hao bao nhiêu cũng chẳng tiếc. Lúc làm nhà thờ, thì bà đã đau nhiều, bịnh nặng,
hai chơn đi đứng không nỗi, ngày đêm nằm một chỗ, cựa quậy không đặng, song dầu
vậy, cũng cứ một lòng mạnh mẻ, lúc khỏe thì biểu khiêng đi coi làm, một ít lâu
trước khi bà qua đời, thì biểu khiêng vô đặng chỉ cho thợ sơn phết. Đến ngày 20
April, thì bà kêu thợ lại biểu phải nong công làm cho kịp lễ Đức Bà Phù Hộ các
giáo hữu. Nhà thờ xong xuôi, thì bà xem lễ cũng rước lễ đôi ba phen trong nhà
thờ mới. Các công việc ngày đã hoàn thành, rày bà đặng hát lời kinh ca vịnh Nunc dismittis của thánh Siméon xưa!
Mà thật, bịnh một ngày một
thúc tới, hai chơn thì sưng lên, cả mình đau đớn nhức nhói, trong lúc đó bà
cũng giữ một mực, lo đủ các việc thiêng liêng, lúc khỏe thì đọc kinh lần hột,
khi đau đớn thì kêu than cùng Chúa, các dì giúp bà thì đọc kinh giảng sách cho
bà nghe. Mỗi ngày thì bà chịu lễ, lúc khá thì các dì khiêng bà lên nhà thờ, khi
mệt thì đem Mình Thánh Chúa cho bà chịu. Bà cũng xin các chị khiêng bà đi chầu
Mình Thánh Chúa và làm việc tháng Đức Mẹ. Dầu đau đớn, song tánh tình vẫn vui vẻ
luôn, ai đến thăm viếng thì bà tỏ mặt vui cười, chẳng chút chi buồn bực than
trách.
Đến ngày 17 tháng Mai bịnh
càng nặng, dầu đã uống nhiều thứ thuốc chạy nhiều lương y có tiếng, đó chẳng phải
là ý bà muốn, song cũng nhờ lòng rộng rãi của một gia thất kia, tuy còn ngoại,
song đã cho người con gái theo đạo, rày đang ở nhà tập mình trong nhà phước Chợ
quán. Tốn hao bao nhiêu, nhà nầy không tiếc, tiếc một đều là không thể cứu bà đặng.
Lòng yêu người như vậy, lẽ nào Chúa chẳng trả công lại sao, một chén nước lã,
thí cho kẻ khó, Chúa còn thưởng thay, huống chi công ơn thể ấy! Vậy ngày 17
tháng Mai, thì bà xin chịu phép xức dầu thánh. Cha Bề trên trường Latinh, là
cha linh hồn bà cho bà chịu lối 5 giờ chiều. Lúc đó bà tỉnh táo như thường, sẵn
lòng dưng trót mạng sống nơi tay Chúa phân định.
Đến ngày thứ bảy, áp lễ
Đ. C. T Ba Ngôi, bà thấy trong mình đã mòn sức, nên bà xin cha phó họ Chợ quán,
quí danh là Bênêđitô Cậy, ban phép đại xá sau hết cho bà. Từ đó bà càng dọn
mình hơn nữa, đến hai giờ khuya bà xin chịu lễ, song dì giúp thấy bà như thường
tưởng chưa sao, nên xin bà chịu khó đợi đến sáng, cho dễ bề đem Mình Thánh Chúa
cho bà. Bà cũng vui lòng đợi, một ít lâu sau nghe bà than thở lớn tiếng rằng: Lạy
Chúa, con xin dưng các sự đau đớn con chịu đây, xin Chúa cho kẻ có tội trở lại,
kẻ ngoại đặng ơn phần rỗi và cho chị em trọn niềm việc bổn phận cho sáng danh
Chúa. Lời cầu nguyện thể ấy, nơi giường người hòng lìa thế, thì đẹp lòng Chúa
là thể nào!
-------------------
Khỏi một ít lâu sau bà hỏi
thăm mấy giờ, đoạn cũng xin chịu lễ, song bỡi còn khuya, lại cũng chẳng dè bịnh
trở, nên dì giúp xin bà rán đợi đến sáng. Lúc đó bà tỉnh táo như thường, chăm
chỉ nghe mấy lời dì giữ linh hồn đọc, đoạn bà nói rằng: một chút nữa đây tôi sẽ
dùng bữa cùng Đ. C. G. Mà thật sự, giờ sau hết đã đến, giờ gian nan khốn khó đã
cùng, rày đến giờ tớ trung nghĩa vào ra mắt cùng Chủ nhơn lành. “Euge serve bone, intra in gaudium Domini
tui”. Mặt bà lúc đó bình tịnh vui vẻ, miệng bà cứ thầm thì kêu xin, bà rán giơ
tay làm dấu thánh giá một phen sau hết, đoạn linh hồn tốt lành liền ra khỏi xác
cách êm ái dịu dàng!
“Beati qui in Domino moriuntur” Phước cho kẻ chết lành trong Chúa.
Đó mới trọn câu sống sao chết vậy!.
Sáng ngày vừa dặng tin bi
ai ấy, thì nội nhà phước đều châu lụy chan hòa. Kẻ khóc người than, đoạn mau
mau thông tin cho các dì khắp nơi đặng cầu lễ cho linh hồn Anê cùng về chôn
xác. Lúc bà đau nặng thì các dì đi dạy các họ có về thăm bà lần sau hết. Đó là
một đều nên gẫm: Kẻ bề trên thẳng nhặt thể nào, nếu bỡi lòng đạo đức mà ra, thì
sau lại càng làm cho kẻ bề dưới mến yêu kính phục.
Thợ làm với bà khi xưa
thì dưng công xây cho bà một huyệt nơi đất thánh nhà phước. Từ ngày Chúa nhựt đến
thứ ba, thì các dì và nhiều bổn đạo họ Chợ quán thay phiên cầu lễ. Sáng ngày thứ
ba, đúng năm giờ rưỡi cha Laurent rước xác vô nhà thờ, đoạn làm lễ hát trọng thể.
Chính Đức cha chầu lễ, cùng có nhiều cha quen biết đến xem lễ và đưa xác. Bổn đạo
họ Chợ quán cũng đông, có bà Paul de Marie và ít bà nhà trắng, nhà phước Cái
mơng và Thủ thiêm cũng cho ít dì đi đến xem lễ và đưa xác. Lễ hát vừa xong, Đức
cha thân hành làm phép xác, đoạn đưa linh cửu bà đến phần mộ, tại đất thánh nhà
phước, trước nhà thờ Chợ quán. Đám xác rất trọng: thánh giá mở đầu đi trước, tới
đồng nhi và bổn đạo họ Chợ quán, đến các dì các chị, mỗi người tay cầm đèn
sáng, miệng lần hột cầu hồn, đoạn đến các cha, trước quan tài Đức cha đi giữa,
đầu đội mũ bạc, sau quan tài, thì bà con cùng thân quyến của bà chịu tang để chế.
Trên quan tài để một tràng bông hường, kết hình thánh giá. Tới nơi, Đức cha đọc
các kinh cầu chúc cho linh hồn bà đặng lên nơi tiêu sái: Re-quiescat in pace! Đọc kinh xong mỗi người rảy nước thánh trên
quan tài mà từ giã, đoạn ai nấy lui về lòng ngùi ngùi thương tiếc! Xác Bà Anê
Linh rày nằm tại đất thánh nhà phước, kế một bên cây thánh giá, chính bà đã lo
xây dựng. Nằm đó nghỉ an đợi giờ sống lại hiển vinh! Hỡi bà Anê! Bốn mươi bảy
năm, giã từ sự thế, ẩn thân nơi nhà Chúa, lánh xa các cuộc vui chơi, chỉ lo tu
thân tích đức. Dầu lắm khi phải gian nan khốn khó, nhiều lần ngậm cay nuốt đắng,
song lúc gian nan cũng như hồi thới lai, bà một lòng vàng đá, trọn niềm phận sự,
hết dạ kính Chúa yêu người. Rày đã mãn vòng lao lý, đàng bà đi đã đến chốn, khá
trông Chúa nhơn từ khấn ban phần thưởng cho bà, là con trung tôi hiếu của Chúa,
“Ai bỏ cữa nhà cha mẹ, anh em chị em, vườn ruộng vì danh Tao, thì sẽ đặng lãnh
bằng trăm và sẽ đặng sống đời đời.” Lời Chúa phán đành rành, lẽ nào còn nghi
nan đặng sao!
Giã từ bà phen sau hết!
Chị em ở lại đau lòng xót dạ, song hết thảy thề quyết sớm khuya sẽ theo một nẻo
bà đi. Công khó bà muôn đời ghi nhớ, đức tài bà chẳng khá quên đâu, ước trông
có ngày, chị em lớn nhỏ sẽ đồng phước cũng bà một chốn!
Người qua đời mà công việc
hãy còn: ai bước chơn vào nhà phước, thấy nhà cữa đồ sộ, đâu đó thứ lớp, sạch sẽ
vển van, thì liền nhớ, không có nơi nào trong nhà mà không nhờ công khó bà Anê
Linh!
Khi bà qua đời rồi, có một
dì, lúc bà sanh tiền thì theo phụ lực làm các việc với bà, kiếm đặng một tờ giấy,
chính tay bà đã viết lúc cấm phòng đầu năm 1927. Trong đó bà viết rằng: “Lạy Đức
Chúa Giêsu là Cha rất nhơn từ, ơn Chúa cho con mỗi ngày hằng nhớ sự chết, nên
các đồ con dùng thì con coi là đồ để liệm xác con. Cho đặng thêm lòng tin cậy
phú dưng mình cho Chúa, thì con dốc lòng mỗi ngày khi sớm mai, con sẽ dưng cho
chúa mọi sự lành Chúa ban cho con, cùng mọi sự khó con chịu, lại các việc lành
nhỏ mọn con làm nhờ ơn Chúa, cùng những sự yếu đuối con lầm lỗi mất lòng Chúa.
Con xin dưng cho Chúa hết, các sự lành xin Chúa giữ, các đều lầm lỗi con xin
Chúa sửa lại, và nhờ công nghiệp Chúa sẽ đền bồi sự thiếu thốn con. Con xin
dưng sự dốc lòng ấy trong tay Đức Mẹ. Con nhờ ơn cấm phòng lần nầy tưởng chắc
là lần sau hết cho con, vì Chúa đã cho khỏi sự chết lúc trước, song sự yếu đuối
cơn bịnh thì còn luôn. Con cám ơn Chúa, vì cơn bịnh nầy là dấu Chúa thương con
cho con đặng dọn mình chết lành, song con tiếc một đều là con không đặng chịu
khó hơn nữa: …Chỗ khác than thở với Chúa rằng: Lạy Chúa, việc đó con lấy làm
khó, song con thưa với Chúa, nếu Chúa muốn dùng con như tôi tá Chúa để giúp việc
nhà Chúa, thì con dưng mình lãnh lo việc ấy… Nếu Chúa muốn bỏ con ra như đầy tớ
vô ích thì con cũng vui lòng!”
Ít hàng đó, cách nói đơn
sơ thật thà, song đầy lòng kính mến Chúa cùng tỏ ra lòng khiêm nhượng của bà
Anê Linh.
Chúc nguyền cho trong nhà
nữ tu xứ nầy đặng nhiều người tài đức như bà Anê Linh.
Cúi xin Chúa nhơn từ cho
linh hồn Anê đặng lên chốn nghỉ ngơi, hằng xem thấy mặt Đ. C. T hưởng phước vui
vẻ vô cùng. Amen.
(Chung)
N.
P. C. Q
. Báo Nam Kỳ Địa Phận năm 1927
Thứ Hai, 19 tháng 12, 2022
Chủ Nhật, 18 tháng 12, 2022
Hạnh Dì Madalêna Diên - Nhà phước Thủ Thiêm
HẠNH
DÌ MADALÊNA DIÊN
Nhà
phước Thủ-thiêm.
---------------------------------
Một Dì thuộc Dòng Chị em
mến thánh giá, tuổi đi quá bát tuần, mới qua đời tại Nhà phước Thủ-thiêm hôm
ngày 16 Mai, tưởng nên kể qua lý lịch và hạnh kiểm của Dì cho chư độc giả rõ.
Dì Madalêna Diên sinh ra
năm 1850, người quê quán tại họ Giồng-rùm (Trà-vinh), là con của ông Raymongđô
Dương-Văn-Mưu và bà Mátta Nguyễn-thị-Bường. Dì vào tu tại Nhà Phước Thủ-thiêm
năm 1873, và đến năm 1876 thì khấn hứa theo luật Dòng. Khấn hứa đoạn, Dì đi dạy
tại Bàrịa. Cách ít lâu, Bề trên đổi Dì lên Búng (Thủ-dầu-Một), ở đó trên 10
năm. Họ Búng con nít thật đông, nhờ Dì nông công dạy dỗ, mà chúng nó ham học thì
mau tấn tới. Sau bề trên kêu Dì trở về Nhà phước coi việc nhà nhuộm, Dầu công
việc ở Búng đang tấn phát và nam nữ lớn bé trong họ đang tríu mến Dì, song vừa
nghe lịnh Bề trên, Dì liền vui lòng tuân theo và ân cần làm việc Bề trên chỉ biểu.
Khi họ Thủ-dầu-một mới
khai trương, xin các Dì lên dạy, thì Bề trên sai Dì lên đó. Đương ở nhà nhuộm,
công việc đã thạo và ra dễ dàng, lại phải đi lãnh dạy trẻ con ở một trường mới
mở, thật là một việc rất khó. Dầu vậy, Dì cứ một mực vui vẻ vâng lời, và hết sức
siêng năng cần mẫn, cho nên trẻ con học mau thuộc và mau thông hiểu lẽ đạo.
Bề trên lại đổi Dì đi Bến-sắn,
Bến-cát, cũng thuộc hạt Thủ-dầu-một. Bất luận ở đâu, dầu lâu hay mau, Dì cũng hết
lòng làm trọn bổn phận và được thiên hạ mến yêu.
Lúc Đức cha J.B Tòng làm
cha chánh sở Bàrịa, Ngài thấy dân Quảng-Bình vào ở đánh cá rất đông, số bổn đạo
càng ngày càng tăng, một mình Ngài lo không xuể, nên đã xin Bề trên cho 2 Dì xuống
giúp Ngài. Lúc ấy là đầu năm 1919, Bề trên sai 2 Dì đi Bàrịa, dạy tại Xóm-lưới.
Trong số ấy có Dì Madalêna Diên, khi ấy đã 69 tuổi, chẳng nệ nhọc thân cực trí,
cứ nhắm mắt vưng lời. Dì rất siêng năng sốt sắng việc linh hồn; thường ngày khi
mãn giờ dạy trẻ ở trường, thì Dì đi đến các nhà bổn đạo khuyên lơn an ủi những
kẻ nguội lạnh rối rắm. Nhờ đó, Chúa ban ơn cho phô kẻ ai biết nghe lời Dì mà lo
trở lại.
Theo luật nhà Dòng, hễ ai
khấn hứa đủ 50 năm, thì Chị em trong nhà ăn mừng lễ Vàng.
Vì vậy, năm 1926, Nhà phước
Thủ-thiêm đã ăn mừng đệ ngũ thập châu niên Dì Madalêna Diên khấn hứa trong
Dòng.
Qua năm 1928, tuổi Dì quá
thất tuần, bịnh hoạn, yếu đuối; Dì phải trở về Nhà phước đặng điều dưỡng. Hễ Dì
nghe ở xung quanh có ai ngoại, hoặc có đạo mà rối rắm gần chết, thì Dì mau chơn
đến tận nơi an ủi nó trở lại. Năm 1930, Dì lãnh coi sóc nhà Hài-đồng của Nhà
phước Thủ-thiêm. Dầu già cả mệt nhọc, mà Dì rất mến thương con trẻ, hằng săn
sóc chúng nó luôn luôn.
Được ít lâu, Dì phát bịnh,
nên phải nghỉ coi nhà Hài-đồng. Nghỉ thì nghỉ, mà nào Dì có chịu ở nhưng; cả
ngày lo làm việc giúp Nhà phước, lo làm bông cho họ nầy họ kia.
Đầu tháng Mars năm nay
(1933), Cha sở họ Phước Khánh, J.B. Đồng, thấy tại làng Bình-khánh, trong sở
Ngài, có nhiều người muốn trở lại đạo, nên cha xin 2 Dì đến giúp, Bề trên lại
sai Dì Malalêna đi với một Dì nữa. Dù biết sức hơi mình đã tổn, song đã quyết ý
dưng trót mình và trót đời mình để làm tôi Chúa, thì Dì cúi đầu vưng ý Bề trên,
sẵn lòng tế lễ mạng sống mình cho Chúa, vì không có nhà ở, nên khi đến nơi dạy,
phải ở đậu bạc nơi nhà bổn đạo. Dì dạy xong xuôi, cha rửa tội được 15 người và
làm phép hôn phối được 3 đôi.
Đang còn dạy, Dì phát bịnh
nặng, phải trở về Nhà phước. Không đầy 3 tuần, Dì đã trút linh hồn bằng an
trong Chúa. hưởng thọ được 83 tuổi, ở Nhà phước được 60 năm, khấn hứa được 57
năm.
Cả đời Dì ở Nhà phước, chỉ
biết có một sự vưng lời và siêng năng làm việc, đáng nên gương cho các chị em
trong Dòng noi dõi. Ất Chúa đã dành để phần thưởng trọng vọng châu báu cho Dì ở
trên Thiên đàng. Nếu lúc còn sống, Dì có nhuốm phải đôi chút bụi trần thế, thì
các chị em trong nhà phước và các bổn đạo, nhứt là những kẻ đã thọ ơn Dì giáo dục
khuyên lơn, xin cầu nguyện cho linh hồn Dì mau khỏi nơi luyện ngục, mà đặng vào
chốn hỉ hoan đời đời.
Một
dì nhà phước Thủ-thiêm.
.Báo Nam Kỳ Địa Phận năm
1933