Thứ Hai, 20 tháng 7, 2020
Tại sao tiếng Pháp đã có tên Japon để chỉ nước Nhật mà lại còn có tên Nippon? Hai tên này có gì khác nhau?
Thứ Bảy, 18 tháng 7, 2020
Xin có đôi lời góp ý về: Chuyện Đông chuyện Tây trên Kiến thức ngày nay, số 98, có giải đáp về câu “Dán bùa l. mèo”.
AN CHI: Vẫn có người gọi đó là l. mèo! Chẳng hạn Lê Văn Đức trong Việt Nam tự điển đã ghi và giảng như sau:“l. mèo. Đầu hồi. Góc giụm hình tam giác nơi hai mái nhà giáp nhau”. Chính cái dáng “góc giụm hình tam giác” đã gợi ý cho người bình dân gọi nó là cái l. mèo đấy. Miền Bắc gọi đầu hồi là đầu hồi, còn vỉ ruồi (= đầu hồi) là một hiện tượng lâm thời thuộc về lời nói chứ không phải là một đơn vị từ vựng cố định. Vỉ ruồi theo nghĩa đen xuất hiện trong phong trào vệ sinh yêu nước tại chiến khu Việt Bắc và một số vùng tự do khác thời kháng chiến chống Pháp. Người ta đan những cái vỉ nhỏ bằng tre, cỡ bàn tay và thường là hình tam giác, để đập ruồi nên mới gọi là vỉ ruồi. Một ít người đã dùng lối ẩn dụ mà gọi cái đầu hồi nhà là vỉ ruồi nhưng đây tuyệt nhiên không hề là một cách gọi phổ biến. Đến như khu bị và khu đĩ thì đây lại là hai lối nói trại của thu kỉ (Xem, chẳng hạn, sđd, của Lê Văn Đức hoặc Đại Nam quấc âm tự vị của Huình-Tịnh Paulus Của) mà lối nói trại này suy đến cùng cũng là do ảnh hưởng gián tiếp của l. trong l. mèo (các từ khu, đít, trôn đều có thể dùng theo uyển ngữ để chỉ cái l.).
1. Nxb.Bốn phương, Sài Gòn, không ghi năm, tr.179.
Kiến thức ngày nay, số 106, ngày 15-4-1993
Thứ Sáu, 17 tháng 7, 2020
Xin góp ý cho mục Chuyện Đông chuyện Tây ở Kiến thức ngày nay, số 98 như sau: Tiếng Pháp Ouïes de poisson và tiếng Anh the gills of a fish là khứu giác của cá. Trừ tác giả Chuyện Đông chuyện Tây, không có ai nói tai con cá là mang của nó cả.
ĐỘC
GIẢ:
Xin góp ý cho mục Chuyện Đông chuyện Tây
ở Kiến thức ngày nay, số 98 như sau: Tiếng Pháp Ouïes de poisson và tiếng Anh the
gills of a fish là khứu giác của cá. Trừ tác giả Chuyện Đông chuyện Tây, không
có ai nói tai con cá là mang của nó cả.
AN
CHI:
Ouïes de poisson và the gills of a fish chính là mang cá. Riêng tiếng Pháp Ouïes thì có nghĩa gốc là thính giác chứ không phải “khứu giác”. Vẫn
biết trừ chúng tôi ra không ai nói tai là mang cá nhưng xin được thưa thêm như
sau. Con “cá vức bốn tai” trong Chỉ nam
ngọc âm giải nghĩa mà chúng tôi đã dẫn chính là con cá mà Hán ngữ gọi là tứ
tai lô, nghĩa là “cá lô bốn mang”. Ba
tiếng tứ tai lô đã được Từ hải giảng như sau: “Một loại cá lô,
dài khoảng bốn, năm tấc (tấc Tàu – AC), miệng rộng đầu to, hai cái mang bành rộng
ra, để lộ những đường vân đỏ tía, tựa như là có bốn mang (tứ tai) cho nên gọi
là cá lô bốn mang (tứ tai lô), tục gọi là cá bốn mang (tứ tai ngư). Từ hải còn dẫn thêm Chính tự thông như sau:
“Cá lô ở mọi nơi đều (chỉ có) hai mang, riêng (cá lô) Tùng Giang thì (có) bốn
mang”. Trong thế giới động vật, có một nhóm gọi là nhóm bốn mang, tiếng Pháp là
tétrabranche, thì tiếng Hán gọi là tứ tai loại. Từ những điều trên đây suy
ra, cá vức bốn tai chính là cá vức bốn mang. Không thể nào khác thế được. Vậy,
dù chỉ một mình chúng tôi nói, thì tai
ở đây vẫn cứ là mang đó thôi!
Kiến
thức ngày nay, số 106, ngày 15-4-1993
Thứ Năm, 16 tháng 7, 2020
Phận gái mười hai bến nước.
Thứ Ba, 14 tháng 7, 2020
Tại sao người ta lại ghép tên con chim (có cánh, để trứng) với tên cho chuột (có vú, đẻ con) thành tiếng đôi “chim chuột” để chỉ chuyện trai gái ve vãn, tán tỉnh nhau?
AN CHI: Hai con vật hữu quan, một con thuộc lớp chim, một con thuộc lớp có vú, tất nhiên không thể” tình tự” với nhau được. Đó là xét về sinh vật học. Còn xét về từ nguyên thì chim chuột cũng không phải là một tổ hợp được tạo ra theo qui tắc cấu tạo từ ghép đẳng lập của tiếng Việt. Nó chỉ là kết quả của một sự dịch nghĩa từ các thành tố của một địa danh Trung Hoa: Điểu Thử Đồng Huyệt (= Chim Chuột Cùng Hang), cũng gọi tắt là Điểu Thử (= Chim Chuột).
Đó là tên một ngọn núi trong dãy Tần Lĩnh, nằm ở phía Tây huyện Vị Nguyên, phủ Lan Châu, tỉnh Cam Túc. Núi này có tên như thế là vì dân chúng ở địa phương đã quan sát được hiện tượng chim chuột ở cùng một hang. Giống chim đó có tên là đồ hoặc mộc nhi chu còn giống chuột đó có tên là đột hoặc ngột nhi thử. Sách Cam Túc chí chép: “Đất Lương Châu có con ngột nhi thử, giống như con chuột, có con chim tên là mộc chi nhu, giống như con sẻ, thường cùng con ngột nhi thử ở chung một hang. Đó chính là (chim) đồ (chuột) đột nhưng chỉ là tên xưa tên nay khác nhau mà thôi”. Vậy con mộc nhi chu, tức con chim đồ, chỉ là kẻ sống nhờ ở hang của con ngột nhi thử, tức con chuột đột. Giữa chúng không thể có quan hệ “tình cảm” hoặc “tính dục” được.
Tuy nhiên nhà nho Việt Nam thì lại tin tưởng ở nhà chú giải họ Khổng. Khổng Tử là Đức Thánh thì Khổng An Quốc cháu ngài cũng phải là một quyền uy. Bậc quyền uy này đã giảng rằng “điểu thử đồng huyệt” là chuyện trống mái giữa chim và chuột thì việc nhà nho Việt Nam dịch hai tiếng điểu thử thành chim chuột để chỉ chuyện tán tỉnh, ve vãn giữa trai gái cũng là điều rất tự nhiên.